Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

THỰC HIỆN NGHIÊM NGUYÊN TẮC, TẬP TRUNG DÂN CHỦ; KHÔNG NGỪNG CHĂM LO XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG, GẮN BỐ MẬT THIẾT VỚI NHÂN DÂN

 


          Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là nhân tố quyết định sức mạnh và sự thống nhất của Đảng. Do đó, cần nhận thức đúng nội dung, bản chất của tập trung dân chủ; mối quan hệ biện chứng giữa tập trung với dân chủ; trên cơ sở đó mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền tham gia vào việc quyết định công việc của Đảng, có quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến, cụ thể hóa thành các quy chế, quy định, nhất là việc dân chủ thảo luận xây dựng chủ trương, nghị quyết và lãnh đạo, triển khai tổ chức thực hiện. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng kèn cựa, địa vị, tranh giành quyền lực, cũng như cục bộ địa phương; bố trí đúng cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, đơn vị; xây dựng tình yêu thương, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích chung. Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất là một truyền thống tốt đẹp của Đảng, đồng thời là nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng nước ta.

          Thực tiễn trong những bước ngoặt của cách mạng, trong những lúc khó khăn, nguy hiểm, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguồn sức mạnh, là nhân tố quan trọng, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải được xây dựng trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn, tình cảm cách mạng trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; đồng thời thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng. Hiện nay, trước yêu cầu phát triển của cách mạng có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất phức tạp, chưa sáng tỏ, trong Đảng cần có thảo luận, tranh luận. Đây là quy luật bình thường và lành mạnh trong Đảng, phản ánh bước trưởng thành của Đảng. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù lợi dụng việc Đảng ta mở rộng dân chủ thảo luận để khuếch trương các ý kiến trái ngược nhau, sau đó quy chụp cho Đảng ta là bắt bớ, xử lý những người có quan điểm bất đồng.

          Về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác”. “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân” - đây là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đồng thời làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy, nhờ quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc của Đảng, chăm lo giữ gìn sự đoàn kết gắn bó giữa Đảng với nhân dân, Đảng ta đã khơi dậy các tiềm năng từ nhân dân, tạo ra nguồn lực mới cho Đảng. Ngược lại, ở đâu và lúc nào tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên xa dân, quan liêu thậm chí trù dập, ức hiếp dân thì Đảng mất chỗ dựa từ nhân dân, bị dân xa lánh.

          Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng và chỉnh đốn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục nhận thức sâu sắc, có biện pháp tích cực, thiết thực để góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; giữ gìn và phát huy bản chất tốt đẹp của Đảng; ngăn chặn, khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu; đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ, xây dựng củng cố và thực hiện các thiết chế dân chủ, tăng cường các hình thức dân chủ trực tiếp. Đồng thời, Đảng cần đẩy mạnh việc chăm lo xây dựng và củng cố các cơ quan nhà nước trong sạch, vững mạnh./.

TBQL 17

TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, TÍCH CỰC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

        Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là một yêu cầu đòi hỏi khách quan, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước; là sứ mệnh thiêng liêng do nhân dân và dân tộc giao phó; là nhân tố bảo đảm ổn định chính trị, tạo nên sức mạnh đoàn kết, thống nhất để đưa đất nước đi lên. Không có vai trò lãnh đạo của Đảng thì không thể có độc lập dân tộc vững chắc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và càng không có chủ nghĩa xã hội. Vì thế, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc, mục tiêu, đồng thời là điều kiện kiên quyết để làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

          Trong bối cảnh hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu thực hiện các quy định của Ban Bí thư, Bộ Chính trị, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương; xây dựng hình tượng cán bộ, đảng viên trong sạch, liêm khiết; kiên quyết khắc phục sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; nâng cao lập trường cách mạng; bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Ra sức học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng dưới mọi hình thức; nêu cao tính đảng, tính gương mẫu trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; thường xuyên giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đi đôi với việc tích cực tự đổi mới, tự chỉnh đốn; xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong thời kỳ mới./.

TBQL 17

ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC LÀM CHO MỌI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN, QUẦN CHÚNG NHẬN RÕ BẢN CHẤT, ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

        Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với sự bùng nổ của mạng Internet đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, sáng suốt phân tích và nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trên cơ sở đó tăng cường sức đề kháng, tạo sức mạnh đấu tranh có hiệu quả chống lại kẻ thù. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của kẻ thù; đấu tranh kiên quyết bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh bảo vệ và phát triển cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, đường lối đổi mới đất nước, bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; phản bác các quan điểm tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và ý đồ thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Tiếp tục tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, giúp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức rõ mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh, giữa đối tác và đối tượng, phân biệt rõ bạn, thù trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, tranh thủ mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động và kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, củng cố xây dựng niềm tin, ý chí chiến đấu, quyết tâm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng./.

TBQL 17

Thứ Hai, 8 tháng 11, 2021

MỤC TIÊU CHỐNG PHÁ VỀ CHÍNH TRỊ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

            Các thế lực thù địch bằng mọi biện pháp nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tầng lớp nhân dân; xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH), phủ định chân lý “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”; phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng hệ tư tưởng tư sản, lối sống thực dụng trong các thế hệ người Việt Nam. Về tổ chức, tìm cách xâm nhập vào tổ chức đảng và nhà nước để chuyển hóa từ bên trong. Tạo dựng được những tên tay sai làm “ngọn cờ” quy tụ, tập hợp những phần tử chống CNXH ở Việt Nam vào các hoạt động phá hoại hệ thống chính trị (HTCT) ở nước ta hiện nay, khi có điều kiện, thời cơ sẽ lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam bằng cuộc cách mạng “nhung lụa” hoặc bạo loạn lật đổ (BLLĐ). Đó chính là cái đích nhằm đạt tới của hoạt động “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam của Mỹ và các thế lực thù địch.

Mỹ công khai xác định: “đấu tranh ý thức hệ là một cuộc chiến tranh quốc tế”. Trong những năm qua, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này ngày càng mở rộng về quy mô, phát triển về hình thức, tính chất phức tạp, quyết liệt ngày càng tăng, làm cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ diễn ra xuyên suốt, len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Mỹ và các thế lực thù địch đánh giá: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang khủng hoảng về lý luận, không thống nhất đường lối, chính sách”. Chúng kết hợp cả trong và ngoài nước thúc đẩy thực hiện những “chiến dịch” tiến công chống phá về lý luận, đường lối, quan điểm tư tưởng. Trong đó, then chốt là tiến công quyết liệt vào đường lối, Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng ta, nhằm loại bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, đưa quan điểm tư tưởng trái chiều, phản động vào trong Đảng, trong xã hội. Thực hiện âm mưu làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin, lý tưởng dẫn đến dao động, chuyển hóa theo chúng.

          Để đạt được các mục tiêu trên đây, Mỹ và các thế lực thù địch đã, đang và sẽ tập trung vào những vấn đề cơ bản dưới đây:

          - Phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta.

          Xóa bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu hàng đầu của Mỹ và các thế lực thù địch, nhằm làm mất phương hướng, giảm sút ý chí chiến đấu, xa rời mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Kẻ thù nhận thức rất rõ rằng, sở dĩ cách mạng Việt Nam vẫn đứng vững và tiếp tục phát triển đi lên bất chấp mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt do chính chúng gây ra là do chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng sâu sắc trong nhiều thế hệ người Việt Nam. Một trong những nguyên nhân làm cho CNXH ở Liên Xô và Đông Âu tan rã nhanh chóng là do kẻ thù của CNXH đã thành công trong việc gạt bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các thế hệ sau này. Chính ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô (trước đây) đã từ bỏ những nguyên lý có tính nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin.

          Các thế lực thù địch tập trung mọi cố gắng để chứng minh cho “Tính lỗi thời của học thuyết Mác - Lênin”.  Chúng cho rằng: “hầu hết các nước ngày nay đều bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ còn một vài nước “ngoan cố” như Trung Quốc, Việt Nam là tôn thờ”. Gần đây, chúng tung ra luận điệu: “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay cả Bộ Chính trị”. Bằng thực tế sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, chúng khẳng định: “mô hình đổ, nghĩa là học thuyết đổ. Thực chất chủ nghĩa Mác là một học thuyết hư vô, là sự biện hộ cho một khoa học tàn phá xã hội”. Chúng còn lớn tiếng tuyên bố: “Cách mạng Tháng Mười Nga là sự đẻ non; là sai lầm của lịch sử; CNXH hiện thực là quái thai, là sự phát triển ngoài nền văn minh nhân loại”, v.v. và v.v.. Chúng tuyên truyền vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm”. Chúng phủ định con đường cách mạng của Đảng và nhân dân ta từ năm 1930 đến nay. Chúng cho rằng, công cuộc đổi mới của Việt Nam là trở lại con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN). Chúng phủ nhận khả năng quá độ lên CNXH ở nước ta, vì theo chúng, “Việt Nam mất một điều kiện tiên quyết là sự giúp đỡ quốc tế XHCN”. Những luận điệu đó đã tác động tiêu cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm và lòng tin của một bộ phận không nhỏ trong các tầng lớp nhân dân, gieo rắc sự hoang mang, dao động, giảm lòng tin và sự hoài nghi về CNXH và cuộc cách mạng mà chúng ta đang thực hiện. Những luận điệu này đã mở đường cho những ý tưởng nghi ngờ, bi quan về CNXH của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

          - Phủ định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.

          Chúng tập trung phủ định nguyên lý về hình thái kinh tế - xã hội, về học thuyết giá trị thặng dư, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; nguyên lý về vấn đề đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, tập trung dân chủ và phủ định toàn bộ học thuyết này. Chúng tìm các lý lẽ để đổ lỗi cho mọi sai lầm của CNXH là do thực hiện chuyên chính vô sản. Mọi sai lầm của CNXH và cách mạng Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra. Xã hội Việt Nam chỉ có thể phát triển nếu như Việt Nam cùng thực hiện việc lật đổ chế độ XHCN như ở Đông Âu và Liên Xô. Để làm việc này, trước hết Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ các nguyên tắc chuyên chính vô sản và nguyên tắc tập trung dân chủ./.

TBQL 17

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO, NHÂN QUYỀN GÂY MẤT ỔN ĐỊNH TRẬT TỰ XÃ HỘI VÀ LÀM LUNG LAY NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA

            Trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Bên cạnh những cơ hội hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm để tăng cường năng lực bảo đảm các quyền của người dân, còn nảy sinh những thách thức từ việc một số thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá ta, nhất là trong vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Thực tế, việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người liên quan đến dân tộc, tôn giáo, nhân quyền là yêu cầu có tính tất yếu khách quan, dân chủ trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, thông qua các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo luôn tiềm ẩn và hiện hữu những âm mưu và ý đồ thâm độc của các thế lực thù địch lợi dụng nhằm can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia, vi phạm và chà đạp nghiêm trọng luật pháp và đạo lý quốc tế. Đồng thời, các thế lực thù địch thường sử dụng các vấn đề này để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với mục đích lật đổ chế độ chính trị, chính quyền hợp hiến, hợp pháp của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Âm mưu, ý đồ thâm độc của các thế lực thù địch là sử dụng chiêu bài “dân tộc”, “tôn giáo”, “nhân quyền”, “dân chủ” đối với nước ta nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng cách kích động chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan, phủ nhận các giá trị đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về những vấn đề này.

 Đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, “phòng còn hơn chống”. Để giữ vững, kiên trì thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch,  bằng nhiều cách thức và biện pháp mang tính tổng thể đó là: xây dựng, phát triển thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn và tác hại của các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước luôn xuất phát từ dân, vì dân, mang lại lợi ích chính đáng cho nhân dân, ngoài ra không có lợi ích nào khác; đồng thời giúp nhân dân hiểu rõ những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân, cán bộ, đảng viên; chủ động trong quản lý, nắm bắt tình hình, phối hợp cung cấp, trao đổi thông tin, nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm đấu tranh của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là các cơ quan, đơn vị chức năng; chủ động và tích cực trong đấu tranh ngoại giao trên lĩnh vực nhân quyền nói chung, dân tộc, tôn giáo nói riêng là phương thức hiệu quả trong tình hình hiện nay, đặc biệt thông qua các kênh ngoại giao chính thức (ngoại giao nhà nước), ngoại giao Đảng (đối ngoại Đảng) và ngoại giao nhân dân; chủ động và tích cực tham gia cuộc đấu tranh chung về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo tại các cơ chế và diễn đàn đa phương, đặc biệt là Liên hợp quốc, nhằm góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam; trên hết là xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân để xây dựng thế trận “lòng dân”, thế trận an ninh nhân dân vững chắc nhằm tăng sức đề kháng cho nhân dân vừa phát triển kinh tế - xã hội vừa bảo vệ và phát huy nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

Từ khi đổi mới đất nước đến nay, với sự lãnh đạo của Đảng và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị và nhân dân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, các thế lực thù địch tiếp tục ráo riết chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, Cương lĩnh, đường lối phát triển đất nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc để khẳng định tính tất yếu thành công của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là rất cần thiết. Trong thời kỳ toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chúng ta càng thấm thía bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” vẫn còn nguyên giá trị, khẳng định sự trung thành tuyệt đối của Đảng và nhân dân ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động ./.

TBQL 17

LUẬN ĐIỆU TUYỆT ĐỐI HÓA KINH TẾ TƯ NHÂN, PHỦ NHẬN VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC

        Cùng với đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, các thành phần kinh tế đã cùng nhau phát triển. Kinh tế tư nhân được Nhà nước chú trọng hỗ trợ bởi các quyết sách, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Kinh tế nhà nước, trong quá trình phát triển bên cạnh những thành tựu nổi bật cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Thực tế này, làm xuất hiện luận điệu trái chiều là tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Ở các nước tư bản, chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa giữ vai trò thống trị của quan hệ sản xuất, là cơ sở nảy sinh những bất bình đẳng về kinh tế và áp bức về xã hội.

Ở nước ta, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân gắn liền với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là đúng đắn, hợp quy luật. Kinh tế tư nhân là một chủ thể vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trường, không có khu vực kinh tế tư nhân thì sẽ không có nền kinh tế thị trường đúng nghĩa. Tuy nhiên, tự thân khu vực kinh tế tư nhân không giúp khắc phục những khiếm khuyết của thị trường và do đó không thể gắn sứ mệnh là chủ thể dẫn dắt, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011  - 2020, Đảng ta khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô”. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Trên các phương diện kinh tế, chính trị và xã hội đều khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt các hoạt động của nền kinh tế. Kinh tế nhà nước còn là cơ sở để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển. Bởi vì, Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước công nông, nhà nước của những người lao động. Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thiết phải khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và thành phần này phải ngày càng phát triển trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Nếu không củng cố và tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thì không thể nói tới định hướng, giữ vững, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay kinh tế nhà nước vẫn còn những hạn chế, yếu kém nhất định như: hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng suất của một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước còn thấp; sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu, thất thoát và thua lỗ còn lớn; tình trạng đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, độc quyền doanh nghiệp đang hiện hữu... Những yếu kém trên diễn ra trong trong khâu tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh bắt nguồn từ những sai lầm, yếu kém của một số cá nhân lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp... chứ không phải là sai lầm về quan điểm, chủ trương kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Vậy nên, một số luận điệu cho rằng phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam không nên để thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo mà hãy để kinh tế tư nhân dẫn dắt, định hướng, kiểu như ở các nước tư bản là hoàn toàn sai trái. Đây là  mưu đồ của các thế lực thù địch, sâu xa họ muốn phá hoại thành quả cách mạng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

TBQL 17

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐÒI XÓA BỎ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

 

            Thời gian gần đây, các thế lực thù địch gióng lên luận điệu đòi xóa bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa trong Cương lĩnh, đường lối của Đảng ta. Trong rất nhiều luận điệu đó, nổi lên là phủ nhận cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. Họ cho rằng, kinh tế thị trường không thể gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa, hai thực thể này không thể song hành cùng nhau; kinh tế thị trường là tự do, hãy để nó hoạt động tự do. Đây là một luận điệu hoàn toàn sai trái

          Tổng kết toàn diện hơn 30 năm đổi mới, Đảng đã nêu rõ: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Chúng ta có đầy đủ cơ sở khoa học để khẳng định tính tất yếu, tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta gồm nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Về lý luận, kinh tế thị trường là bước phát triển cao của kinh tế hàng hóa, dựa vào thị trường để vận động và phát triển. Kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản mà nó là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, ra đời trên cơ sở phân công lao động xã hội và sự tách biệt tương đối về kinh tế của những người sản xuất, gốc rễ của vấn đề đó chính là sự xuất hiện của chế độ tư hữu.

          Sự ra đời của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Ban đầu là đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa là sự lựa chọn phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của thời đại, vừa là sự tiếp thu các giá trị truyền thống của đất nước và những thành tựu cả về lý luận và thực tiễn trong các giai đoạn phát triển của đất nước. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tồn tại khách quan trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện đa dạng hóa các hình thức sở hữu nhưng dựa trên cơ sở chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu; đa dạng hóa các hình thức phân phối, trong đó phân phối theo lao động là đặc trưng cơ bản nhất./.

TBQL 17

HIỂM ĐỘC CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ TRÊN MẠNG LÚC DỊCH BỆNH

        Trước những diễn biến rất phức tạp, khó lường của đợt dịch Covid-19 lần thứ tư, cả hệ thống chính trị, các cấp chính quyền từ Trung ương tới địa phương cũng như mỗi người dân đều vào cuộc với quyết tâm cao độ nhằm sớm kiểm soát, dập đợt dịch nguy hiểm nhất từ trước tới nay để sớm đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới. Trong lúc “chống dịch như chống giặc”, mọi thông tin về dịch bệnh, đặc biệt là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid-19 cùng các cấp, các ngành ở địa phương về dịch bệnh đều được người dân quan tâm, theo dõi sát sao.

Trên “mặt trận” truyền thông, báo chí, truyền thông trên internet với các tờ báo điện tử, trang tin điện tử, mạng xã hội… với trách nhiệm, tinh thần xây dựng đã cập nhật kịp thời thông tin dịch bệnh, chỉ đạo điều hành, công tác phòng, chống với những tin tức nóng hổi, bài viết phân tích hay, sâu sắc, đa chiều và bổ ích giúp mọi người dân cập nhật tình hình và biết cách phòng tránh bệnh dịch. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực là chủ đạo, là dòng chủ lưu đó vẫn còn không ít những thông tin, bài viết không chính xác, sai sự thật, thậm chí bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt nhằm mục đích xấu xa, đen tối.

Với bản chất xấu xa không hề thay đổi, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, đặc biệt là tổ chức khủng bố Việt Tân đã tìm mọi thủ đoạn xuyên tạc, chống phá cuộc chiến đấu phòng chống đại dịch Covid-19 của Việt Nam. Chúng trắng trợn bịa đặt, cố tình đưa thông tin sai lệch; lợi dụng một số sai sót trong công tác phòng, chống dịch của Việt Nam để xuyên tạc, bịa đặt, thổi phồng với dụng ý xấu xa, tuy các hành vi sai trái đó đã được các cơ quan chức năng, kiên quyết xử lý, kịp thời truy tố những đối tượng vi phạm.

Lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trong đợt dịch thứ tư với số ca mắc và trường hợp tử vong tăng cao, nhiều tỉnh và thành phố trên cả nước phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, các đối tượng chính trị trong và ngoài nước ráo riết đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Chúng sử dụng không gian mạng, đặc biệt là mạng xã hội Facebook, kênh chia sẻ video YouTube, tập trung đăng tải các bài viết phản cảm, phản ánh sai sự thật về công tác phòng, chống đại dịch tại Việt Nam. Số đối tượng cầm đầu tổ chức khủng bố Việt Tân ráo riết sử dụng mạng xã hội Facebook đăng tải hàng loạt bài viết xuyên tạc công tác phòng, chống dịch Covid-19, như cho rằng Nhà nước kiếm cớ trì hoãn việc tiêm chủng vaccine mở rộng; chính quyền Việt Nam nhiều lần tuyên bố triển khai các gói cứu trợ, tuy nhiên trên thực tế thì người dân chưa nhận được một sự hỗ trợ đáng kể nào...

Đáng chú ý, tổ chức khủng bố Việt Tân còn có ý đồ triển khai kế hoạch hành động khẩn cấp hướng về quốc nội, nhằm tập trung lực lượng để tăng cường hoạt động chống phá vào trong nước lúc đại dịch Covid-19 diễn biến rất phức tạp. Lợi dụng cả nước đang căng sức chống đại dịch, Việt Tân tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, lôi kéo người vào tổ chức, hòng phát triển lực lượng chống đối trong nước…

TBQL 17

HÌNH THỨC, GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH TRONG PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

        Việc xác định đúng đắn các hình thức, giải pháp đấu tranh là vấn đề đặc biệt quan trọng trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Hình thức, biện pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rất đa dạng, phong phú, bao gồm các hình thức của công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách; các hình thức, giải pháp về hành chính, kinh tế, pháp luật... trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời thường xuyên được đổi mới phù hợp với sự phát triển của tình hình. Trong đó, tập trung vào một số hình thức, giải pháp cơ bản sau đây:

Một là; Giáo dục, tuyên truyền: Đây là hình thức, biện pháp có vị trí đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các chủ thể, các lực lượng tham gia phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Thông qua hình thức giáo dục chính trị tư tưởng trong tổ chức đảng, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ... để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm phòng ngừa, ngăn chặn mọi vấn đề có thể phát sinh, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đấu tranh, phê bình, xử lý mọi biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thông qua công tác giáo dục, tuyên truyền của các tổ chức CT-XH, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đoàn thể nhân dân, các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân, trên các phương tiện thông tin đại chúng... để nâng cao trình độ nhận thức, trình độ giác ngộ chính trị, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bản lĩnh, ý chí, niềm tin, phong cách sống, tư cách, nhân cách... cho cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, qua đó vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phê phán những trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại, những nhận thức sai trái, lệch lạc trong xã hội, góp phần ngăn chặn nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội ta.

Hai là; Phát huy sức mạnh tổng hợp, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng. Tính chất, đặc điểm của cuộc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong quá trình đấu tranh. Đây vừa là hình thức, biện pháp quan trọng, vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay, đồng thời là hình thức, biện pháp có sức lôi cuốn mạnh mẽ, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn cho công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta, cần được phát huy tốt trong thực tiễn đấu tranh.

Ba là; Thực hiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường, điều kiện phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là hình thức, biện pháp rất quan trọng, trực tiếp tạo động lực cho cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Các cơ quan, đơn vị, chính quyền các cấp làm tốt công tác quản lý, giáo dục đối với cán bộ, công chức, nhân viên của mình, duy trì đầy đủ các chế độ, nền nếp trong sinh hoạt, học tập, các chế độ quản lý theo quy định của pháp luật. Xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi biểu hiện vi phạm đạo đức, tư cách của cán bộ, công chức, viên chức; vi phạm các chế độ quy định, vi phạm pháp luật, đặc biệt là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực, tệ nạn xã hội khác... góp phần vào cuộc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ quan, đơn vị.

Bốn là; Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước. Đây là hình thức, biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh, bảo đảm cho cuộc đấu tranh đúng yêu cầu, nâng cao tính hiệu quả, đồng thời giữ vững được kỷ cương, phép nước trong quá trình phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thực hiện hình thức, biện pháp này đòi hỏi Nhà nước phải thực sự trong sạch, cán bộ, đảng viên trong bộ máy Nhà nước phải thực sự mẫu mực, xứng đáng là những người được nhân dân trao cho quyền lực để quản lý, điều hành đất nước phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, của cách mạng; đề cao kỷ cương, pháp luật trong xử lý, giải quyết những hành vi vi phạm pháp luật, ngăn chặn tác động tiêu cực của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Năm là; Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là hình thức, biện pháp trực tiếp ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo sức đề kháng, “miễn dịch” của cán bộ, đảng viên, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để hoàn thiện phẩm chất, năng lực, tư cách, đạo đức, lối sống, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng.

Các hình thức, giải pháp trên đều nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Vì vậy, cần bám sát đặc điểm, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương mà xác định và thực hiện hình thức, giải pháp đúng đắn, phù hợp, mang lại hiệu quả cao nhất trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương./.

TBQL 17

NHIỆM VỤ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ĐƯỢC ĐÚNG HƯỚNG VÀ CÓ HIỆU QUẢ

            Để cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay được đúng hướng và có hiệu quả, cần nhận thức đúng đắn và quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Cụ thể bao gồm:

Một là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở Việt Nam hiện nay, thực chất là cuộc đấu tranh trong nội bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hai là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Ba là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành đồng bộ trên tất cả lĩnh vực với những nội dung, hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt, hiệu quả.

Bốn là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các tổ chức và lực lượng.

Năm là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “phòng” và “chống”, giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “phòng”, “xây” là chính./.

TBQL 17

MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CHÚNG TA HÃY NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

           Cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay đã và đang đặt ra nhiều yêu cầu bức thiết cần phải tiếp tục làm sáng tỏ. Trong đó, cần có nhận thức mới về cả nội dung, hình thức và biện pháp đấu tranh...

          Nguồn gốc, nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, có âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Song, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam hiện nay không phải là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh địch-ta một mất, một còn như một số người đang rêu rao, mà là cuộc đấu tranh trong nội bộ tổ chức đảng, bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội (CT-XH), trong các tầng lớp nhân dân và diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội để chống lại cái ác, cái xấu, cản trở công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, Đảng, Nhà nước, các tổ chức CT-XH, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân ta vừa là chủ thể đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đồng thời cũng là đối tượng của phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

          Nội dung phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ bao gồm toàn bộ các nội dung công tác “phòng” và nội dung đấu tranh “chống” trong mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau, cụ thể như sau:

          Thứ nhất, ngăn ngừa, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, phải hết sức chú ý đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

          Thứ hai, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nội dung này, cần tiến hành đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện: Phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nhà nước pháp quyền XHCN; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai... thực chất là đấu tranh khắc phục 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng.

          Thứ ba, ngăn ngừa, khắc phục tác hại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội. Đó là việc thực hiện các nội dung đấu tranh để ngăn ngừa, khắc phục tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi con người và tổ chức; làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mất khả năng gây tác hại, không còn lây lan trong đời sống xã hội, dần dần bị triệt tiêu, loại bỏ trong mỗi con người và tổ chức.

          Thứ tư, xây dựng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn mực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc khoa học. Trong nội dung này, đặc biệt cần thực hiện tốt nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là xây dựng về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống, phong cách sống, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa, chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên.

          Thứ năm, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Điều đó không những tạo nên khả năng đề kháng, miễn dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mà còn tạo nên động lực to lớn, sức mạnh nội sinh để giành thắng lợi trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

          Thứ sáu, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập, bất đồng, bất hòa, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa Đảng, Nhà nước, đoàn thể CT-XH với nhân dân; giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội ta./.

TBQL 17