Thứ Năm, 2 tháng 2, 2023

LỬA THỬ VÀNG

 


 

Xuân Quý Mão 2022 Đảng ta tròn 93 tuổi. Nhìn lại chặng đường 93 năm ấy biết bao gian nan thử sức Đảng ta là bấy nhiêu lần Đảng ta vượt qua và giành chiến thắng.

Chỉ tính riêng năm 2021, cả nước chìm trong dịch giã, cao điểm là những ngày TP. Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế của cả nước trở thành ổ dịch của cả nước. Chưa bao giờ phải huy động cả lực lượng quân đội, công an cùng sức người, sức của cả nước hỗ trợ TP. Hồ Chí Minh dập dịch. Không chỉ có thế, những ngày cuối năm thiên tai ập vào miền Trung, đã khó khăn, lại khó khăn hơn.  

 

Vượt qua, chiến thắng những gian nan, thử thách do khách quan đem lại đã khó, vượt qua và chiến thắng chính bản thân khó khăn gấp vạn lần. Nhận thức sâu sắc khó khăn đó, Đảng ta luôn quyết liệt cảnh giác chủ động ngăn ngừa, phát hiện và xử lý triệt để.

Chẳng phải, trong hai hội nghị Trung ương 4 của ba nhiệm kỳ liên tiếp (XI, XII và XIII) Đảng ta đều dành trọng tâm cho công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chỉ trong gần 3 tháng (9 đến tháng 11-2021) Đảng ban hành 3 văn bản trực tiếp liên quan đến xây dựng Đảng là những biểu hiện cụ thể tinh thần quyết liệt đó sao?

Chẳng phải, chỉ tính trong năm 2022 đã có 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị xử lý kỷ luật bằng các hình thức, đặc biệt trong đó có cả ủy viên Trung ương mới được bầu khóa XIII, là thể hiện cụ thể của tinh thần không khoan nhượng,  xử lý kỷ luật bất kỳ ai vi phạm, không có vùng cấm đó sao? 

Đặc biệt, vụ án mua bán kít xét nghiệm Covid-19 của Công ty Việt Á một lần nữa khẳng định những cảnh báo và những biện pháp được đưa ra về xây dựng, chỉnh đốn Đảng do Đảng ta đưa ra hoàn toàn chính xác. Kít xét nghiệm vốn chỉ được dùng thử Covid-19 nhưng nó đã thử cả phẩm chất đạo đức, bản lĩnh của cán bộ, đảng viên. Vụ án cho thấy tham nhũng không còn đơn lẻ mà đã có tổ chức, đường dây từ các ngành trung ương tới cơ sở và tính chất nghiêm trọng không chỉ còn là tham nhũng.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là cuộc chiến dài lâu, âm thầm nhưng gay gắt, phức tạp, khó khăn. Căn bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là căn bệnh nguy hiểm diễn ra với nhiều hình thức ở mọi lĩnh vực mà chính Đảng phải tự chữa, tự loại bỏ. Đó chính là lửa thử vàng – thử trí tuệ, bản lĩnh của Đảng nhằm giữ vững vị trí lãnh đạo, cầm quyền, xứng đáng là đạo đức, văn minh như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định./.

TBQL 17

 

BỒI DƯỠNG PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HIỆN NAY

 


Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách làm việc dân chủ đã đạt nhiều kết quả, góp phần chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ. Song, trước yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược nâng cao hơn nữa về chất lượng, vững kiến thức chuyên môn, có năng lực quản lý, điều hành, phong cách làm việc dân chủ, khoa học... Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, đưa ra được những quyết định sáng suốt, hiệu quả, phù hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), triển khai kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12-6-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng phải vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”. Có thể thấy, yêu cầu xây dựng, bồi dưỡng phong cách làm việc cho cán bộ, trong đó có phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết.

Để công tác này thực hiện có hiệu quả, trước hết, cần thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022 về luân chuyển cán bộ; Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ… Việc thực hiện nghiêm các quy định trong công tác cán bộ là cách thức để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mỗi tổ chức đảng. Đồng thời để cán bộ phải tự ý thức rèn luyện phong cách làm việc dân chủ.

Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ, bảo đảm tính chặt chẽ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho cán bộ có môi trường rèn luyện, phấn đấu, phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới công tác tác đánh giá cán bộ, bởi đây là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá không đúng về cán bộ dẫn tới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ không đúng,  có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng; triệt tiêu nhân tố tích cực, thúc đẩy chủ nghĩa cơ hội, tiêu cực, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ được đánh giá khách quan, công tâm, được lựa chọn và bố trí đúng sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực… Để đánh giá đúng cán bộ, cần đánh giá đa chiều, thông qua năng lực, phẩm chất và uy tín; dựa vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc cụ thể. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và tham khảo ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân cán bộ tự đánh giá, tập thể đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá, huy động các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia đánh giá cán bộ.

Cần có cơ chế, chính sách thu hút, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương gắn với các chế độ, chính sách như tiền lương, thu nhập, cải thiện cuộc sống, môi trường, điều kiện làm việc… cho cán bộ. Việc đổi mới, thực hiện tốt cơ chế, chính sách trên cơ sở kiểm soát tốt quyền lực, vừa đảm bảo chất lượng cán bộ, vừa phát huy dân chủ, phòng, chống được tiêu cực…

Thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cũng là cách để rèn luyện tác phong dân chủ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng đều nêu rõ vấn đề về vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” cũng đã khẳng định quan điểm đó. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trong nhiệm kỳ qua, “việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”.

Cán bộ phải sâu sát cơ sở, nắm vững thực tiễn, kịp thời giúp cơ sở giải quyết các khó khăn và vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là tác phong công tác cần phải có của mỗi cán bộ. Đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, để có phong cách lãnh đạo sâu sát, cần phải dành thời gian đi cơ sở, trực tiếp trao đổi, đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…, từ đó tránh được bệnh quan liêu, hạn chế tình trạng ra các quyết định, chủ trương thiếu tính thực tiễn, duy ý chí. Mặt khác, cần xem phong cách sâu sát cơ sở, thực tiễn là một tiêu chí, một yêu cầu cần thiết trong quy hoạch, đề bạt cán bộ giữ vị trí người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cùng với làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”. Như vậy đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao về chất lượng, góp phần thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng./.

TBQL 17

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng dân chủ, coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Trong Đảng, Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”; “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” và phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ”. Đối với Nhà nước, Người cho rằng: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”.

Người luôn coi trọng cán bộ, khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phong cách, tác phong công tác của cán bộ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc. Bởi vậy Người luôn căn dặn cán bộ “Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”. Muốn có tác phong dân chủ, “cán bộ phải đi sát sản xuất, đi sát quần chúng và phải dân chủ với dân”. Như vậy, vừa là phát huy dân chủ nhân dân, vừa rèn luyện tác phong dân chủ của người cán bộ.

Trong cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách làm việc giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc, quyết đoán, hòa mình vào quần chúng nhân dân, coi nhân dân là cội nguồn của mọi thắng lợi. Người coi dân chủ là “chìa khóa vạn năng” để khơi dậy tính sáng tạo của nhân dân, huy động và sử dụng nguồn lực nhân dân vào các lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động khác nhau, bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Người đã nhấn mạnh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”.

Bởi vậy, Người nhắc nhở cán bộ, trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác…

Phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải “nói đi đôi với làm”. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tức là để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm. Ở bất kỳ đâu, làm bất cứ việc gì, ở cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mọi người, phát huy trí tuệ của tập thể, đề cao những kinh nghiệm, sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong công việc. Người chỉ rõ: “Gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống… Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí dân chủ, cởi mở trong làm việc, cũng như trong cuộc sống; từ đó, tạo động lực, niềm tin cho mỗi người có thể tham mưu, hiến kế, đề xuất những cách thức, biện pháp nâng cao năng suất lao động, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đồng thời, đề cao phong cách làm việc dân chủ nhưng không đồng nghĩa với dân chủ quá trớn, mạnh ai người nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; làm bất kỳ việc gì phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên./.

TBQL 17

TỰ SOI CŨNG PHẢI TỰ SỬA

 


Trong thực tiễn, việc thực hiện tự soi, tự sửa không hề dễ dàng. Ở nhiều đơn vị, còn một bộ phận cán bộ, đảng viên lúc kiểm điểm thì "hùng dũng" nhận lỗi về mình; bày tỏ “quyết tâm” lúc tự soi nhưng lại coi nhẹ việc tự sửa, không đề ra kế hoạch lịch trình cụ thể…

Buổi sinh hoạt chi bộ của đơn vị nọ có cấp trên về dự. Đến phần kiểm điểm đánh giá ưu, khuyết điểm, khi được cấp trên nêu vấn đề:“Vì sao những hạn chế, khuyết điểm này tồn tại đã khá lâu nhưng đơn vị chưa có giải pháp khắc phục triệt để?”.

Có thể thấy, tình trạng nhận lỗi, nhận khuyết điểm và xin được “rút kinh nghiệm” hay “rút kinh nghiệm sâu sắc” nhưng chưa quan tâm sửa sai hoặc sửa sai nửa vời là hiện tượng khá phổ biến trong cán bộ, đảng viên. Nếu không kịp thời khắc phục, “sợi dây” rút kinh nghiệm sẽ dài mãi, về lâu dài là nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh của Đảng ta.

Tự soi và tự sửa là hai phạm trù khác nhau nhưng lại thống nhất, song hành trong một chủ thể. Đối với mỗi người cán bộ cách mạng, tự soi, tự sửa là một trong những yêu cầu bắt buộc.

Trong thực tiễn, việc thực hiện tự soi, tự sửa không hề dễ dàng. Ở nhiều đơn vị, còn một bộ phận cán bộ, đảng viên lúc kiểm điểm thì "hùng dũng" nhận lỗi về mình; bày tỏ “quyết tâm” lúc tự soi nhưng lại coi nhẹ việc tự sửa, không đề ra kế hoạch, lịch trình cụ thể, thành ra “nước đổ lá khoai”, đâu lại vào đấy.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên không thật sự trung thực khi nói về các hạn chế, khuyết điểm của mình. Biểu hiện thường thấy là quanh co đổ lỗi do “yếu tố khách quan”, do cấp dưới tham mưu, hoặc quy hết cho trách nhiệm tập thể và xin “rút kinh nghiệm sâu sắc” với cấp trên, coi như bản thân không hề liên quan gì. Những chuyện tự soi mà không tự sửa như thế sẽ làm mất niềm tin của tập thể, quần chúng.

Còn nhớ, phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kêu gọi mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ. Hiện nay, nội dung tự soi và tự sửa đã trở thành một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn thể cán bộ, đảng viên, theo đúng tinh thần Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII.

Để tự soi, tự sửa thực chất hiệu quả, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần thẳng thắn, trung thực, tu dưỡng rèn luyện, nói đi đôi với làm, dám chịu trách nhiệm và dám sửa chữa khuyết điểm. Trong sinh hoạt, từng đảng viên gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao, tự soi bản thân hoàn thành nhiệm vụ đến mức độ nào, còn hạn chế khó khăn gì để tự sửa.

Quá trình tự soi, tự sửa rất cần sự giúp sức của tập thể, đồng chí, đồng nghiệp, nhất là người đứng đầu. Sự giúp sức ấy phải đặt trên tinh thần tôn trọng, thương yêu, làm cho nhau cùng tiến bộ, chứ không phải bóc mẽ, hạ bệ lẫn nhau.

Trong công tác, không ai tránh khỏi được sai sót, khuyết điểm dù to hay nhỏ. Bởi vậy, như Bác Hồ đã từng dạy, việc tự soi, tự sửa của mỗi cán bộ, đảng viên phải là việc làm thường xuyên, liên tục, như soi gương, rửa mặt hằng ngày. Đó cũng là quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và giữ gìn phẩm chất, tư cách người cán bộ, đảng viên./.

TBQL 17

LUẬN CỨ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 


Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời và trực tiếp lãnh đạo đất nước 93 năm, cả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay. 93 năm - một chặng đường gần một thế kỷ và có đủ thời gian để nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự phát triển của cả một dân tộc.

Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân mất tự do, chịu cảnh lầm than, nô lệ. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng mình khỏi thân phận nô lệ nhờ thành công của cuộc cách mạng tháng Tám (năm 1945) và giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (năm 1954) và chống Mỹ (năm 1975). Những thành tựu to lớn đó đã làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc, được cả thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam trân trọng, khắc ghi.

Trong bối cảnh đất nước bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, khủng hoảng toàn diện trên tất cả các mặt, đời sống nhân dân đói nghèo, thiếu thốn, lại thêm Mỹ và phương Tây áp đặt cấm vận kinh tế trong một thời gian dài, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo cả dân tộc bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Những thành tựu đó không phải tự nhiên mà có và cũng không phải dễ dàng có được. Đó chính là kết quả của quá trình nhận thức về tính tất yếu của đổi mới đất nước, đồng thời, xuất phát từ sự thôi thúc của bản thân Đảng ta với mong muốn ngày càng mang lại sự phát triển phồn vinh cho đất nước, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Những thành tựu đó là bằng chứng thuyết phục để khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước; đồng thời cũng làm cho nhân dân ngày càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận để Đảng trở thành một lực lượng xã hội duy nhất lãnh đạo toàn xã hội. Do đó, không thể cố tình lờ đi những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam qua hơn 36 đổi mới để cáo buộc rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lãnh đạo, chỉ khiến đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển. Vì vậy, những kẻ lấy danh nghĩa là “con dân đất Việt”, lấy hình thức viết “tâm thư”, “thư ngỏ” để kêu gọi Đảng phải từ bỏ Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cố tình chống phá Đảng, chống phá chế độ ta.

Từ việc tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng trong suốt hơn 93 năm nói chung và trong thời kỳ đổi mới nói riêng, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm rất quan trọng. Đó là: “Đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Tại Đại hội XIII, khi tổng kết kết quả 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta cũng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đây là những nhận định khách quan, phản ánh đậm nét vai trò to lớn, không thể phủ nhận của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước trong suốt thời gian qua. Do đó, luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước” hoặc là do nhận thức thiển cận (số này không nhiều), hoặc là cố tình lờ đi, phủ nhận (trường hợp này là đa số) vai trò lãnh đạo to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới đất nước. Do đó, mỗi chúng ta cần phải cảnh giác trước những luận điệu đó, đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác trên tất cả mọi mặt trận.

Trong những năm tiếp theo, công cuộc đổi mới đất nước sẽ tiếp tục còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nếu mỗi chúng ta luôn hiểu và vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng thì sẽ là góp phần củng cố, gia tăng thêm sức mạnh cho Đảng, để Đảng ta tiếp tục là người lãnh đạo, dẫn dắt cả dân tộc thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

TBQL 17

BẢN CHẤT CỦA NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 


Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những luận điệu thường thấy của các thế lực thù địch nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta. Đây là trọng tâm, là mũi nhọn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” với âm mưu cơ bản và lâu dài là tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, chính trị nhằm chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Đây là một âm mưu nguy hiểm, thâm độc liên quan trực tiếp đến uy tín cũng như sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên được các thế lực thù địch ráo riết thực hiện với nhiều thủ đoạn tinh vi.

Để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với cách mạng Việt Nam, chúng tung ra luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử” trên nhiều diễn đàn khác nhau bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Ở góc độ khác, có thế lực còn khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để công kích Đảng ta, đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo trưc tiếp, toàn diện của Đảng. Gần đây, một số phần tử cơ hội chính trị còn rêu rao rằng, hiện nay, Việt Nam vẫn còn là một nước chậm phát triển. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do “Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước”. Chúng còn vu cáo rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy có đạt được một số kết quả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện đường lối lãnh đạo của Đảng đã không còn phù hợp nữa nên không thể có thành công được!

Trong những dịp Đảng, Quốc hội xin ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân về dự thảo các văn kiện, nghị quyết, luật…, các hoạt động chống phá lại càng quyết liệt và tinh vi hơn. Dưới hình thức “Thư ngỏ”, nhiều thế lực thù địch bao gồm các lực lượng phản động ở nước ngoài, các phần tử cơ hội chính trị trong nước đã gửi “tâm thư” kêu gọi Đảng ta phải thay đổi để “cứu vớt” đất nước Những luận điệu này đã lộ rõ bản chất của những kẻ có mưu đồ chống phá - đó là cố tình lờ đi những thành quả không thể phủ nhận của công cuộc đổi mới của Việt Nam và vin vào những hạn chế, khuyết điểm để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.

Có thể nhận thấy rõ mưu đồ của các thế lực thù địch khi đưa ra luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước” là nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới và phát triển của Việt Nam hiện nay. Căn nguyên của luận điệu này được chúng đưa ra là do Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến nay vẫn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và các thế lực thù địch luôn rêu rao rao rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã “lỗi thời”, “không còn phù hợp” với thực tiễn hiện nay. Do đó, có thể nhận thấy rõ cái trước mắt là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng cội rễ sâu xa là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách là nền tảng tư tưởng, là “kim chỉ nam” cho mọi chủ trương, đường lối và hoạt động của Đảng. Vì thế, đây là một thủ đoạn chống phá Đảng kiểu “rượu cũ bình mới” nên không thể xem thường./.

TBQL 17

NHÌN LẠI 93 MÙA XUÂN, TỪ KHI CÓ ĐẢNG

 


 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng: Mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên CNXH. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc; Đây là bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết, nhất trí của những chiến sĩ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc; Đây là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng; Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang; đồng thời, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại.

Sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những kỳ tích vĩ đại trong thế kỷ XX và hơn hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, lập lên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) - Nhà nước cộng hòa đầu tiên của Đông Nam Á; thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp với quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”; thắng lợi của cuộc kháng chiến 21 năm chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH; thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo 37 năm qua, đã vượt qua mọi khó khăn, bao vây cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đứng vững và tiếp tục đi lên trong cơn “động đất chính trị” trên thế giới khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ (1989-1991) và làm cho toàn bộ hệ thống XHCN trên toàn thế giới lâm vào thoái trào. Qua 37 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và sự nỗ lực của toàn thể hệ thống chính trị cũng như của toàn dân, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước làm không đủ ăn, thu không đủ chi, xuất không đủ nhập, Đảng lãnh đạo đất nước thoát khỏi nhóm đất nước nghèo, vào nhóm nước đang phát triển.

Những kỳ tích vĩ đại trên giành được qua 93 năm là minh chứng hùng hồn, thuyết phục về sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và khát vọng đưa nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc và mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao theo định hướng XHCN vào năm 2045, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thi đua để hiện thực hóa khát vọng cao cả kể trên của Đảng và toàn dân tộc. Với phương châm đúng đắn: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu”, Đảng ta không ngừng đổi mới để đáp ứng những thực tiễn đòi hỏi phù hợp với tình hình quốc tế và trong nước. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức được đặc biệt quan tâm, triển khai tích cực và đạt được nhiều hiệu quả qua Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW và Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Quy định số 37 - QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm đang từng bước đi vào cuộc sống./.

TBQL 17

NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN TRIỂN KHAI TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ VÀ NHÂN DÂN LÀM CHỦ

 


Ngày nay, bối cảnh tác động đến mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ đã có sự thay đổi căn bản. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng đã có bước phát triển nhất định, bộc lộ đầy đủ các quy luật vận động của nó. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo những nguyên tắc mới, chủ quyền Nhân dân, phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước được đề cao. Dân trí và dân chủ của đông đảo các tầng lớp Nhân dân được nâng lên một trình độ mới. Hội nhập quốc tế sâu rộng không chỉ về kinh tế mà còn trên tất cả các mặt văn hóa, khoa học, công nghệ,... Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi tư duy và lối sống của con người. Bối cảnh đó, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức và cách thức giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Để củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.  Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới theo định hướng tạo lập điều kiện và môi trường thuận lợi hơn để các thiết chế của bộ máy nhà nước năng động, sáng tạo, làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không dựa dẫm, ỷ lại. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm soát quyền lực nhà nước để kịp thời phòng, chống sự thao túng quyền lực của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể của Nhân dân theo định hướng phát huy mạnh mẽ hơn nữa quyền làm chủ của Nhân dân; dân chủ phải thực sự trở thành động lực của sự phát triển trong điều kiện mới.

Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân thực sự là một Nhà nước dân chủ, pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Tiếp tục nâng cao nhận thức, thực hiện đúng đắn nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước nhằm xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trước hết là kiểm soát được xã hội và sau nữa là kiểm soát được bản thân mình. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, ủy quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền các cấp ở địa phương theo Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết của Đảng. Xây dựng một Quốc hội mạnh và thực quyền về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; một Chính phủ năng động, sáng tạo, quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả; một nền tư pháp vì công lý, vì quyền con người, quyền công dân.

Kiểm soát quyền lãnh đạo của Đảng và quyền lực nhà nước là nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN. Theo đó, quyền lãnh đạo của Đảng cũng như quyền lực nhà nước được Nhân dân ủy quyền, Nhân dân giao quyền là có giới hạn mà không phải vô hạn. Giới hạn đó là Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2). Do đó, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước và giữa các tổ chức của hệ thống chính trị. Thể chế hóa vai trò của Nhân dân kiểm tra, giám sát các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ thật sự của Nhân dân. Để dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải thực sự dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mình và đặc biệt phải tiếp tục tạo lập môi trường và điều kiện để Nhân dân thực sự làm chủ trên thực tế. Trong mọi hoạt động, Đảng và Nhà nước luôn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ XHCN, quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(2). Đặc biệt, các cơ quan nhà nước cần phải “đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước” (3). Đảng và Nhà nước phải thực sự tạo điều kiện và môi trường để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật cởi mở, thân thiện, dễ dàng trong việc thực hiện các quyền dân chủ cơ bản của công dân. Trong đó, sớm xây dựng và hoàn thiện các đạo luật về các quyền làm chủ trực tiếp của công dân, như Luật Bầu cử, Luật về Hội, Luật về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, Luật Giám sát và phản biện xã hội... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội nâng cao nhận thức, thực hiện mạnh mẽ, thực chất chức năng giám sát và phản biện xã hội, coi đó là phương tiện của những tổ chức đại diện Nhân dân kiểm soát trước và sau đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đảng và Nhà nước thực sự coi đó là phương thức khắc phục những khiếm khuyết trong hoạt động của hệ thống chính trị nhất nguyên, bảo đảm tính hiệu quả, thiết thực trong việc mở rộng dân chủ, đi đôi với giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa để Nhân dân thực sự là chủ nhân của đất nước. Lợi ích, sức mạnh của đất nước đồng nhất với lợi ích, sức mạnh của Nhân dân. Sứ mệnh, vai trò của Đảng, Nhà nước là bảo vệ và phục vụ Nhân dân. Quyền lực của Đảng, Nhà nước là do Nhân dân ủy thác. Đảng viên và cán bộ, công chức, viên chức là con em của Nhân dân, được Nhân dân nuôi dưỡng phải thực sự là “công bộc”, “đầy tớ” trung thành của Nhân dân.

Bốn là, tích cực, chủ động, nhạy bén nhận diện những thủ đoạn mới và kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu,... chống phá thành quả cách mạng cùng những quan điểm “tư bản hóa” Việt Nam, chia rẽ Đảng với Nhân dân, xuyên tạc, phá hoại quan hệ: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đồng thời củng cố, phát triển thực chất mối quan hệ này để làm căn cứ thực tiễn xác đáng, giàu tính thuyết phục đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Tóm lại: Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ chính là sự thể hiện rõ nhất tính đặc sắc, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta đang xây dựng. Đó là sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và toàn xã hội; là sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở thể chế hóa những chủ trương của Đảng và vai trò làm chủ của Nhân dân. Do đó, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ chính là giải pháp cần thiết để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ thực sự của Nhân dân./.

TBQL 17

CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ VÀ NHÂN DÂN LÀM CHỦ

 


Đảng - Nhà nước - Nhân dân là ba thành tố có quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau; trong đó, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo; Nhà nước đại diện cao nhất của quốc thể thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại; Nhân dân làm chủ trong thực hiện đường lối lãnh đạo, bầu cử lập ra hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước và thụ hưởng thành quả lãnh đạo. Cần phải củng cố, tăng cường, củng cố mối quan hệ này xuất phát từ những khía cạnh sau:

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta chưa thật sự chú trọng đến mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố Đảng - Nhà nước và Nhân dân. Từ khi đổi mới đến nay, nhận thức về mối quan hệ này ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn. Với nhận thức về vị trí, vai trò của mối quan hệ này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vững và ngày càng phát huy là nhân tố định hướng sự tồn tại và phát triển của ba thành tố: Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc mới về chất so với trước đây “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được pháp luật quy định. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý và Nhân dân là chủ.

Thứ hai, xuất phát từ những hạn chế, bất cập trong quá trình hiện thực hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý.  Nhân dân làm chủ thời gian qua. Mặc dù mối quan hệ này ngày càng được hoàn thiện, củng cố cả về lý luận và thực tiễn nhưng vẫn có tình trạng nhấn mạnh một chiều vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao tính tất yếu coi Nhân dân làm chủ như là hệ quả, là kết quả đương nhiên của sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, nhưng vai trò“đồng thời là bộ phận của hệ thống chính trị ấy”chưa thấy rõ, dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước chưa thực sự trở thành “công bộc” của Nhân dân, mà có nơi, có lúc dường như trở thành“ông chủ”của Nhân dân; tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng ở một số nơi còn rất hình thức. Quyền lực chính trị của Đảng rất lớn nhưng cả trong Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước không quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của tổ chức đảng và cá nhân đứng đầu tổ chức đảng nên dường như trong một số trường hợp chưa thực sự kiểm soát được quyền lực của người đứng đầu cấp ủy các cấp trên thực tế. Vì thế, không ít cá nhân giữ trọng trách của Đảng và Nhà nước ở các cấp có điều kiện thao túng quyền lực, độc đoán, chuyên quyền, hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo.

Thứ ba, trong thời gian qua, một trong những vấn đề bị các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc, chống phá là mô hình và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Để thực hiện các mưu đồ chống phá, các phần tử cơ hội chính trị còn ráo riết đưa người ứng cử tự do vào Quốc hội và hội đồng Nhân dân các cấp. Khi các vòng hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc chủ trì loại chúng ra khỏi danh sách ứng cử (vì không đủ tiêu chuẩn và không được tín nhiệm), thì chúng yêu cầu “phải xóa bỏ cơ chế hiệp thương”. Chúng đòi hỏi phải xây dựng “xã hội dân sự”, để các tổ chức quần chúng hoạt động độc lập, như là lực lượng đối trọng, đối lập với đảng cầm quyền, để kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước, để xây dựng cơ sở xã hội cho các đảng đối lập ở Việt Nam.

Tóm lại: Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ ở Việt Nam trong thời gian tới./.

TBQL 17