Thứ Tư, 9 tháng 11, 2022

“DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM


          Tình hình thế giới, khu vực là yếu tố khách quan có tác động lớn đến lợi ích của mỗi quốc gia - dân tộc nói chung và Việt Nam nói riêng. Dự báo trong thời gian tới, thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng và khó lường. Do đó, việc nắm bắt và nghiên cứu thấu đáo bối cảnh quốc tế, khu vực tác động đến Việt Nam là cần thiết nhằm đề ra những sách lược sát, đúng, kịp thời, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

          Lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề tối hệ trọng của mỗi quốc gia trong hoạch định, thực thi chiến lược, chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự ổn định của hệ thống chính trị. Đây là nhân tố bất biến trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực không ngừng biến động. Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hòa bình, hợp tác là xu thế chủ đạo, song tình hình thế giới, khu vực luôn có diễn biến khó lường, điều này đã và đang đem lại những thuận lợi - thời cơ, khó khăn - thách thức đối với Việt Nam trong việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

          Thực tiễn tình hình quốc tế cho thấy, kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc cho tới một vài thập niên tới, thế giới đang trong quá trình hình thành cấu trúc trật tự mớiTrật tự hiện nay không còn là đơn cực nhưng vẫn chưa phải đa cực. Tuy sức mạnh của Mỹ trong tương quan so sánh với phần còn lại của thế giới không còn cho phép Mỹ có khả năng áp đặt thế giới theo ý chí của riêng mình, nhưng sự ra đời và tồn tại của các trung tâm quyền lực khác, như Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Liên minh châu Âu (EU)... vẫn chưa đủ khả năng định hình trật tự đa cực. Cấu trúc “nhất siêu, đa cường” vẫn tồn tại và ngôi thứ giữa các nước lớn không có nhiều thay đổi, song khoảng cách so sánh lực lượng giữa các nước lớn, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, có sự thay đổi nhanh chóng. Trật tự đa cực và sức mạnh tổng hợp quốc gia của các cường quốc đứng đầu, nhất là Mỹ và Trung Quốc, ngày càng có xu hướng “cân bằng”, buộc các nước phải “cân nhắc” hành vi của mình do lo ngại về phản ứng của các nước khác. Chính điều đó mang lại lợi ích không nhỏ cho hòa bình, ổn định và phát triển của thế giới và khu vực.

          Cục diện thế giới trên cho phép Việt Nam có điều kiện lựa chọn những kế sách phù hợp trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” để không bị chi phối trong quan hệ quốc tế, giảm sức ép của các nước lớn; thúc đẩy quan hệ với nhiều đối tác, nhất là các nước lớn, trên các vấn đề lợi ích chiến lược; qua đó, kiềm chế, đẩy lùi âm mưu, ý đồ và hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt Nam./.

TBQL 17

CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC GIỮA CÁC NƯỚC LỚN NGÀY CÀNG GAY GẮT, PHỨC TẠP, TÁC ĐỘNG ĐẾN HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, TRONG ĐÓ CÓ VIỆT NAM

 

          Trong thời gian qua, thế giới chứng kiến các nước lớn có sự cạnh tranh chiến lược gay gắt, phức tạp, đặc biệt cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc diễn ra một cách trực tiếp, toàn diện. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, gia tăng sức mạnh quân sự, tiếp tục can dự, chi phối an ninh, chính trị thế giới, khu vực và các nước khác. Các nước lớn kết hợp răn đe quân sự với các biện pháp kinh tế, văn hóa, chính trị, ngoại giao, tạo “sức mạnh mềm”, sẵn sàng can thiệp vũ trang, tấn công các nước nhỏ bằng các biện pháp vũ trang và phi vũ trang, buộc các nước phải khuất phục, thay đổi chế độ chính trị... Vai trò của luật pháp quốc tế, thể chế quốc tế tăng lên, nhưng một số nước lớn vẫn đang tìm cách thay đổi “luật chơi” trong quan hệ quốc tế. Ranh giới giữa chiến tranh và hòa bình, môi trường chiến lược diễn biến ngày càng phức tạp, thúc đẩy chạy đua vũ trang. Do yêu cầu phát triển kinh tế, nhất là để vượt qua khủng hoảng bởi tác động của đại dịch COVID-19, các nước đẩy nhanh tốc độ khai thác tài nguyên thiên nhiên, từ đó làm trầm trọng thêm vấn đề môi trường và gia tăng thách thức đối với phát triển bền vững. Sự khan hiếm tài nguyên thúc đẩy các nước lớn tiến hành chính sách “ngoại giao tài nguyên” một cách mạnh mẽ hơn. Cuộc chạy đua về kiểm soát tài nguyên giữa các cường quốc khiến cho môi trường an ninh, chính trị quốc tế thêm căng thẳng.

          Không chỉ vậy, nhằm tạo dựng các trục hợp tác bao vây, kiềm chế Trung Quốc, Mỹ triển khai chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, thúc đẩy nhanh và mạnh mẽ hơn quá trình tập hợp lực lượng ở khu vực; tìm cách lôi kéo các đối tác khác trong khu vực. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh lôi cuốn các nước tham gia Sáng kiến “Vành đai, Con đường” nhằm mở rộng ảnh hưởng chính trị, lợi ích của mình; ngăn chặn, phá thế bao vây, kiềm chế của Mỹ và các đồng minh của Mỹ. Điều này tạo nên áp lực không nhỏ đối với các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam trước việc “chọn bên”. Các nước lớn có thể sẽ sử dụng vai trò, ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế để gây sức ép đối với các nước trong khu vực, nhất là trong các tổ chức quốc tế và khu vực mà những nước này đóng vai trò chủ đạo. Bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt, không loại trừ các nước lớn thỏa hiệp với nhau, ảnh hưởng đến lợi ích của các nước vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam./.

TBQL 17

CÁC NƯỚC ASEAN TIẾP TỤC PHÁT HUY VAI TRÒ TRUNG TÂM HỢP TÁC, THÚC ĐẨY LIÊN KẾT KHU VỰC ĐÔNG Á

 

          Ở khu vực Đông Nam Á, tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN tiếp tục được thúc đẩy đi vào chiều sâu, thể hiện ASEAN tiếp tục là khu vực phát triển năng động, ngày càng phát huy vai trò trung tâm trong thúc đẩy liên kết khu vực Đông Á. Tuy nhiên, tranh chấp chủ quyền biển, đảo giữa các nước lớn với một số nước ASEAN, buộc các nước phải chú trọng nhiều hơn đến quốc phòng. Bên cạnh đó, trình độ phát triển không đồng đều, sự khác biệt về lịch sử, văn hóa, thậm chí vấn đề ý thức hệ vẫn còn nặng nề trong một số nước thành viên ASEAN. Sự can dự của các nước lớn cùng với tính toán lợi ích quốc gia, dân tộc riêng rẽ của một số nước cản trở lập trường chung của ASEAN trong giải quyết những vấn đề phức tạp, gây khó khăn trong lựa chọn đối sách, xử lý quan hệ với các nước lớn. Do vậy, các nước lớn lợi dụng và thực thi chính sách chia rẽ, ngoại giao trên thế mạnh, chi phối, làm suy giảm vai trò của ASEAN.

          Việt Nam là thành viên đóng vai trò ngày càng quan trọng trong ASEAN và nhiều tổ chức khu vực khác. Trong nhìn nhận của các nước lớn - như ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu - Việt Nam là một trong những nước có ảnh hưởng mang tính “dẫn dắt” trong ASEAN. Do đó, trong chính sách của các nước, nhất là các nước lớn đối với khu vực, Việt Nam có vị trí tương đối quan trọng, được các nước coi là một đối tác cần tăng cường, là nhân tố góp phần kết nối quan hệ của các nước với ASEAN. Với nhận thức của các nước về vai trò của Việt Nam nêu trên là điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát huy vị thế, lựa chọn những kế sách phù hợp trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

          Tóm lại, tình hình thế giới và khu vực hiện nay và dự báo trong thập niên thứ ba của thế kỷ XXI có những biến đổi phức tạp, nhanh chóng và khó lườngTình hình trên tiếp tục tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vừa tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi mới, vừa mang đến những khó khăn, thách thức lớn đối với nước ta, đòi hỏi cần phải luôn theo dõi, bám sát tình hình, vận dụng phương pháp khoa học để đánh giá đúng bối cảnh quốc tế. Đặc biệt, phải nắm bắt, dự báo được các xu hướng trong quan hệ quốc tế, khu vực cũng như mục tiêu, lợi ích, ý đồ chiến lược của các nước, nhất là các nước lớn, đối với khu vực và Việt Nam để đề ra đường lối, chính sách, sách lược kịp thời, trong đó phải luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng cần tìm phương cách để tránh rơi vào thế kẹt giữa các bên./.

TBQL 17

CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG CÓ VỊ TRÍ ĐỊA KINH TẾ - CHÍNH TRỊ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI, NHƯNG TIỀM ẨN NHIỀU NHÂN TỐ BẤT ỔN, TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC BẢO ĐẢM LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM

 

          Trong thời gian gần đây, vai trò, sức mạnh và ảnh hưởng của châu Á - Thái Bình Dương đang ngày càng tăng lên khi các nền kinh tế trong khu vực có sự phục hồi và phát triển tích cực mặc dù chịu tác động của đại dịch COVID-19. Theo nhận định của Giám đốc Viện Nghiên cứu kinh tế quốc tế Ph. Béc-xten, trong nền kinh tế toàn cầu, vai trò của khu vực châu Á đã được tăng cường trong 20 năm qua và tiếp tục được củng cố trong hai thập niên tới. Trong tương lai, với các đặc điểm như số lượng lao động và nhu cầu thị trường lớn với những quốc gia là thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú ở Trung Quốc, khu vực Viễn Đông của Nga, Đông Nam Á, công nghệ cao và kinh nghiệm quản lý của các nước tư bản phát triển như Mỹ, Nhật Bản..., cơ hội tập hợp của các nền kinh tế này sẽ giúp mở rộng không gian tăng trưởng kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.

          Cùng với sức hút đặc biệt về kinh tế, ảnh hưởng trên lĩnh vực an ninh - chính trị của khu vực đến an ninh quốc tế cũng ngày càng tăng. Châu Á - Thái Bình Dương tập trung 3 trong số 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đồng thời là nơi hiện diện và tập trung nhiều lợi ích và ưu tiên chiến lược của tất cả các nước lớn trên thế giới. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới và đóng vai trò ngày càng lớn đối với các vấn đề chính trị toàn cầu. Tại khu vực đã xuất hiện một số sáng kiến liên kết và thỏa thuận đa phương không chỉ có nội dung kinh tế - thương mại mà còn mang ý nghĩa tập hợp lực lượng về chính trị, chiến lược và an ninh(5); các diễn đàn hợp tác, như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) có xu hướng mở rộng nội dung hợp tác sang các vấn đề an ninh, chính trị... Sự hiện diện của nhiều nước lớn thúc đẩy quan hệ hợp tác trong và ngoài khu vực phát triển mạnh mẽ, hình thành các liên kết song phương và đa phương, góp phần duy trì xu thế hòa bình, kiềm chế xung đột, ngăn ngừa chiến tranh.

          Tập hợp lực lượng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng linh hoạt, chịu tác động lớn bởi sự điều chỉnh chính sách của Mỹ, Trung Quốc và những chuyển động trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc. Hợp tác đi cùng với va chạm lợi ích và cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc, đặc biệt là giữa hai nước đã và đang diễn ra một cách phức tạp, toàn diện ở khu vực. Kể từ thời điểm Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm lên nắm quyền (tháng 1-2017) đến nay, Mỹ công khai xác định Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh chiến lược” và thách thức an ninh lớn nhất của Mỹ. Trên cơ sở đó, Mỹ triển khai nhiều nội dung, biện pháp chiến lược để cạnh tranh vai trò lãnh đạo khu vực với Trung Quốc, đặt khu vực trước những cơ hội và thách thức an ninh mới. Chiều hướng này còn tiếp tục trong thời gian tới và tác động không nhỏ tới chính sách và an ninh của các nước.

          Mặc dù hòa bình, ổn định vẫn là xu thế chủ đạo tại châu Á - Thái Bình Dương, song tình hình khu vực cũng có nhiều diễn biến phức tạp, trong đó, mặc dù quan hệ kinh tế ngày càng phát triển và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng nhưng quan hệ chính trị giữa các nước trong khu vực, đặc biệt là các cường quốc, vẫn chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn định và những mâu thuẫn có thể bùng phát thành xung đột, đó là: 1- Các tranh chấp biên giới - lãnh thổ tại khu vực, nhất là tranh chấp biển, đảo tại Biển Đông và biển Hoa Đông, trở nên phức tạp hơn, trở thành nguy cơ gây mất ổn định khu vực, ảnh hưởng tới việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải, đe dọa lợi ích chung của các nước trong và ngoài khu vực; 2- Tình hình nội trị nhiều nước diễn biến phức tạp, nhân tố chủ nghĩa dân tộc nổi lên tác động đến quyết sách đối nội và đối ngoại của nhiều nước; 3- Các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống trở nên gay gắt hơn trong khi khu vực vẫn chưa có cơ chế hữu hiệu để đối phó với các nguy cơ này; 4- Khu vực xuất hiện nhiều cấu trúc hợp tác quốc phòng, nhưng thiếu một cơ chế hữu hiệu để ngăn ngừa và xử lý các thách thức an ninh, tranh chấp, xung đột.

          Việt Nam là cầu nối giữa vùng kinh tế biển và kinh tế lục địa ở châu Á. Biển Đông là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn, cả trước mắt và lâu dài để bảo đảm an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không trên tuyến vận tải quốc tế; có vị trí quan trọng trong chiến lược của các nước lớn. Do vậy, các nước lớn muốn lôi kéo Việt Nam trong thực hiện chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Những chuyển động của khu vực châu Á - Thái Bình Dương tạo cơ hội để Việt Nam mở rộng quan hệ và tận dụng nguồn lực từ bên ngoài, góp phần nâng cao sức mạnh quốc gia của Việt Nam. Tuy nhiên, những nhân tố bất ổn như tình hình Biển Đông đã và đang ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ biển, đảo và lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam. Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) quy định cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức, tranh chấp về phân định các vùng biển chồng lấn, đòi hỏi phải đấu tranh khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Việt Nam với gần 100 triệu dân, có kinh nghiệm, truyền thống lịch sử, có sức mạnh, vị thế trên trường quốc tế, luôn kiên định đường lối độc lập, tự chủ, nhưng cũng chịu sức ép rất lớn từ các thách thức trong khu vực và trên thế giới./.

TBQL 17

NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH TOÀN CẦU TÁC ĐỘNG MẠNH TỚI NHẬN THỨC VÀ QUAN HỆ CỦA CÁC NƯỚC NÓI CHUNG, BẢO ĐẢM LỢI ÍCH CỦA VIỆT NAM NÓI RIÊNG

 

          Ngày nay, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin... là những vấn đề mang tính toàn cầu nổi lên và đây là những nhân tố tích cực thúc đẩy tiến bộ của thời đại. Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ, mở ra một thời đại mới về phát triển lực lượng sản xuất, dẫn tới sự thay đổi nền tảng trên mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

          Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ do mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, can thiệp lật đổ, khủng bố tiếp diễn phức tạp; các điểm nóng vẫn tồn tại và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới. Bên cạnh đó, cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh phi truyền thống, như an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh tài chính, an ninh mạng, khủng bố vũ trang, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... đang tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Đây là những vấn đề không một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà cần sự chung tay của cộng đồng quốc tế.

          Việt Nam có vị trí địa lý đặc thù, chịu tác động nặng nề từ các thách thức an ninh phi truyền thống, ảnh hưởng lớn đến nguồn lực, xây dựng lực lượng, thế trận phòng thủ, các mặt bảo đảm cho hoạt động của lực lượng vũ trang trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời bình và khi có chiến tranh. Chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng ngày càng bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng rộng rãi để xâm phạm chủ quyền, an ninh, lợi ích quốc gia, phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chi phối, tác động lớn đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Tuy nhiên, với sự ổn định về chính trị, thế và lực của Việt Nam ngày càng gia tăng trên trường quốc tế, do vậy, cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong hợp tác cũng như tham gia xử lý các vấn đề mang tính toàn cầu; đồng thời, là nước có sự phát triển nhanh về công nghệ thông tin nên Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để tiếp cận công nghệ, tranh thủ thị trường, tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, cũng như ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ mới, tạo sức đột phá mới trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng - an ninh, góp phần tích cực trong việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới./.

TBQL 17

SỰ PHỤ THUỘC CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN, NƯỚC NHỎ VÀO NƯỚC LỚN CÓ XU HƯỚNG GIA TĂNG, TÁC ĐỘNG KHÔNG NHỎ ĐẾN VẤN ĐỀ BẢO VỆ LỢI ÍCH CÁC QUỐC GIA - DÂN TỘC

 

          Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ và sự phụ thuộc của các nước đang phát triển, nước nhỏ vào nước lớn có xu hướng gia tăng, tác động không nhỏ đến vấn đề bảo vệ lợi ích các quốc gia - dân tộc

          Dự báo đến năm 2030, tình hình thế giới, khu vực có thể tiếp diễn các xu thế lớn của những năm qua, nhưng phạm vi, quy mô, mức độ và tính chất có những biểu hiện khác trước. Tình hình sẽ diễn biến phức tạp, khó lường, song hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Đấu tranh giai cấp và quan hệ quốc tế tiếp tục diễn ra với nhiều hình thức mới. Thay vì sự phân hóa sâu sắc như trong thời kỳ Chiến trạnh lạnh, trong những năm tới, các quốc gia tham gia tiến trình hội nhập ngày càng đông đảo, qua đó xuất hiện ngày càng nhiều các cấu trúc an ninh, hợp tác đa tầng nấc, theo cả trục dọc và trục ngang, cả ở quy mô tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng, khiến sự tùy thuộc, ràng buộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng gia tăng. Vì lợi ích địa - chính trị, địa - kinh tế, nhiều nước gác lại tranh chấp, đối đầu để cùng hợp tác, khai thác thế mạnh của nhau nhằm chia sẻ lợi ích. Thậm chí, một số quốc gia có sự khác nhau về hệ tư tưởng, chế độ chính trị cũng bỏ qua những khác biệt này để không chỉ hợp tác mà còn sẵn sàng trở thành “đồng minh” tạm thời của nhau trong xu thế tập hợp lực lượng mới. Mặc dù các cường quốc tiếp tục đóng vai trò chính trong quan hệ quốc tế, các quốc gia nhỏ và vừa sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia các vấn đề thế giới, khu vực. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các yếu tố “công bằng”, “dân chủ” trở thành các chuẩn mực trong quan hệ quốc tế đương đại; ngược lại, những chuẩn mực trong các mối quan hệ, hợp tác, hay các cách thức giải quyết các vấn đề quốc tế vẫn sẽ do các cường quốc đóng vai trò quyết định. Mặt khác, cùng với tác động của đại dịch COVID-19, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ và sự phụ thuộc của các nước đang phát triển, nước nhỏ vào nước lớn có xu hướng gia tăng cũng làm cho tính phức tạp của thế giới đương đại đa dạng và khó đoán định.

          Trước các xu hướng trên, Việt Nam vận dụng hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Bên cạnh đó, những tác động tiêu cực do chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ mang lại đối với Việt Nam là không hề nhỏ, đòi hỏi cần có những đối sách phù hợp nhằm hạn chế những tác động này để không ngừng bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc./.

TBQL 17

BỘ MẶT MỚI CỦA CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRONG CỤC DIỆN THẾ GIỚI HIỆN NAY

 


          Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi sâu sắc. Cùng với sự dịch chuyển trọng tâm quyền lực, các nước lớn cạnh tranh gay gắt, thực hiện can thiệp linh hoạt hơn, kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau để xác lập vị thế. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay.

          “Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự. Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

          Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.

          Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc./.

TBQL 17

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2022

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA “KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC” THEO TINH THẦN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 


          Nhận diện một cách đầy đủ và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của các đối tượng chống phá, xuyên tạc là góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tự đề kháng, củng cố niềm tin của mỗi người cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; qua đó, khơi dậy sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

          Một trong những điểm mới và quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII là lần đầu tiên Đảng ta xác định “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây cũng là bước đột phá trong tư duy của Đảng về sức mạnh nội sinh và phương thức phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Ấy vậy mà các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị, phản động, chống đối, lại đang rêu rao, xuyên tạc rằng, đó là quan điểm duy tâm chủ quan, một khẩu hiệu trống rỗng, phi thực tế, phản khoa học,... hòng thực hiện mưu đồ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta.

          Chúng lý sự rằng, “khát vọng” là yếu tố tinh thần, là mặt tinh thần của đời sống xã hội; do đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần và lấy nó làm cơ sở, nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nên rõ ràng là một quan điểm duy tâm chủ quan; đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

          Xét bản chất, dựa trên lý luận của triết học Mác - Lê-nin về tính độc lập tương đối của ý thức và vai trò, sức mạnh to lớn của tinh thần con người, chúng ta có đủ luận cứ, luận chứng khoa học để phản bác các luận điệu sai trái, nhưng hết sức tinh vi, xảo quyệt nói trên của các thế lực thù địch. Đó là, tuy khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, nhưng các nhà kinh điển mác-xít cũng đồng thời nhấn mạnh, ý thức có tính độc lập tương đối với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Chính vì vậy, V.I. Lê-nin khẳng định: “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan”. Đặc biệt, ý thức tiến bộ, cách mạng một khi được giáo dục, khơi dậy và phát huy đúng cách ở mỗi cá nhân sẽ trở thành sức mạnh tinh thần vĩ đại trong cải tạo xã hội. Đúng như C. Mác đã nói: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.

          Điều đó có nghĩa, ý thức, tư tưởng hay tinh thần của con người, trong đó có các khát vọng chính đáng, hợp lý, hoàn toàn không phải là sản phẩm tiêu cực, thụ động, mà luôn chứa đựng sức mạnh tiềm tàng rất to lớn. Và để hiện thực hóa sức mạnh ấy, để biến nó thành sức mạnh vật chất, đòi hỏi phải biết thường xuyên khơi dậy, bồi đắp và chuyển hóa nó thành các hành động cụ thể, các phong trào xã hội thiết thực. Như C. Mác đã viết: “tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý... Bổn phận của chúng ta là... phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Vì vậy, trong mỗi thời kỳ, ở mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, giá trị và sức mạnh của tinh thần yêu nước cũng như khát vọng phát triển đất nước luôn phụ thuộc rất lớn vào khả năng khơi dậy, phát huy và hiện thực hóa của các thế hệ.

          Thực tiễn cũng đã chứng minh, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sống, tồn tại và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Không hiếm dân tộc hay nền văn minh trên thế giới bị đồng hóa, bị tiêu diệt trong quá trình biến thiên lâu dài của lịch sử, khi không có sự đoàn kết toàn dân tộc, nhất là thiếu khát vọng độc lập, tự cường và phát triển. Đối với dân tộc Việt Nam, yếu tố này lại càng nổi bật và biểu hiện sinh động hơn hết. Như sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, không ngừng được đắp bồi và phát triển, tinh thần yêu nước cùng với khát vọng phát triển đất nước là những giá trị tiêu biểu, tạo nên sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Chính khát vọng cháy bỏng phải giành, bảo vệ cho được độc lập, tự do, thống nhất đất nước đã tạo nên sức mạnh phi thường để dân tộc ta trường tồn và phát triển. Trong lịch sử, ông cha ta đã đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của các đế quốc ngoại bang, giữ vững nền độc lập dân tộc không phải chủ yếu bằng tiềm lực quân sự, bằng sức mạnh vật chất, mà chủ yếu là bằng sức mạnh quật khởi vĩ đại của sự đoàn kết, của khát vọng về chủ quyền quốc gia.

          Với những lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động, dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực đầy đủ, cùng với tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược và nhạy bén chính trị, sự kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã rất đúng, rất trúng khi xác định một cách mạch lạc, đầy sức thuyết phục về khát vọng phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đó là động lực quan trọng, nguồn năng lượng nội sinh to lớn để đưa đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển, “cất cánh” trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội XIII hoàn toàn không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định rất rõ đây là một trong những động lực để tạo thành “hợp lực” cho đổi mới, phát triển và hội nhập; là động lực tinh thần chứ không phải động lực vật chất; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất. Do đó, trước những luận điệu cho rằng quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII là duy tâm chủ quan, mỗi người có sự hiểu biết và tỉnh táo, khách quan đều thấy rõ đó chỉ là một sự non kém về kiến thức triết học và tri thức lịch sử,... hoặc là những ý đồ chính trị hết sức tinh vi và thâm độc, một dạng của thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung, vốn không được bất kỳ khoa học nào đánh giá cao.

          Văn kiện Đại hội XIII đã được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; được góp ý, chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần (riêng Báo cáo chính trị là khoảng 30 lần); được nhiều nhà khoa học, nhà lý luận nghiên cứu, biên soạn một cách cẩn trọng, nghiêm túc, cân nhắc từng từ, từng câu, từng chữ. Văn kiện được đánh giá có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận  thực tiễn, giữa kiên định  đổi mới, giữa kế thừa  phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”. Văn kiện có văn phong trong sáng, súc tích, giản dị, từ ngữ chắt lọc, dễ nhớ, dễ thực hiện; mỗi nhận định, đánh giá, nội dung bổ sung đều có căn cứ xác đáng, nhất là những luận điểm mới như vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Tất cả những điều đó chứng minh tính khoa học, khách quan của những đánh giá, các mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII.

          Thế nhưng, các thế lực thù địch đã, đang lớn tiếng cho rằng, đó chẳng qua chỉ là một lời hiệu triệu, một ước vọng hão huyền, vì nó chỉ có ý nghĩa hô hào, mang tính chất khẩu hiệu thuần túy, trong khi không xác định được những chủ trương, không định vị rõ lộ trình, không đề ra biện pháp cụ thể để hiện thực hóa khát vọng đó. Vì tính quy chụp, xảo ngôn đó, những luận điệu này đã thể hiện một “tư duy thiển cận”, phiến diện, siêu hình và về thực chất, chỉ là một cái nhìn đầy định kiến, “sặc mùi” cơ hội chính trị và phản khoa học.

          Bởi lẽ, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không những xác định rõ các chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn, mà còn đề xuất phương hướng và hệ thống những giải pháp mang tính đồng bộ, khoa học, khả thi cao để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Điều này không chỉ thể hiện sự sáng tạo trong tư duy lý luận của Đảng, mà còn là cơ sở khoa học, là bằng chứng hùng hồn để phản bác lại những quan điểm sai trái, cố tình bóp méo, xuyên tạc Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta./.

TBQL 17

PHỐI HỢP CHẶT CHẼ GIỮA CÁC LỰC LƯỢNG CHỨC NĂNG, ĐA DẠNG HÓA CÁC HÌNH THỨC ĐẤU TRANH PHẢN BÁC NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

          Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để tạo cớ xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; vừa “xây”, vừa “chống”, trong đó lấy “xây” làm chính. Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh; giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo; kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo các hoạt động báo chí, xuất bản, nhất là trong việc định hướng chính trị - tư tưởng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Chú trọng làm tốt công tác nhân sự tại các cơ quan văn hóa, báo chí ở Trung ương và địa phương để củng cố nội bộ thật trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài có chất lượng, có chiều sâu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông./.

TBQL 17

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TĂNG CƯỜNG “SỨC ĐỀ KHÁNG” CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ NHÂN DÂN, ĐẨY MẠNH NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN, TỔNG KẾT THỰC TIỄN

 

          Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục - đào tạo.  

          Nhận thức rõ đối tượng, đối tác trong điều kiện nước ta hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Chủ động cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo về hưu, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên…, từ đó định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.

          Tiếp tục nghiên cứu, khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; làm rõ các vấn đề cần bổ sung, phát triển; nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và sự bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, cần nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ; đồng thời, chủ động nghiên cứu, phê phán bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch bằng các luận cứ khoa học và minh chứng bằng thực tiễn một cách thuyết phục. Quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… , để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả./.

TBQL 17

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO, PHÁT HUY VAI TRÒ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH QUYỀN, VAI TRÒ THAM MƯU CỦA CƠ QUAN CÁC CẤP ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

          Các cấp ủy cần tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xác định mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng đúng đắn, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, các quy chế quản lý thông tin, báo chí, xuất bản, cơ chế cung cấp thông tin, phát ngôn phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đồng thời, có chính sách động viên, khích lệ phù hợp, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phù hợp để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh.

          Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác tổ chức, cán bộ; phòng, chống nội gián, bảo vệ an ninh quốc gia. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc phát tán những đơn, thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong phát hiện, xử lý những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cơ hội chính trị; giải quyết triệt để các vấn đề nảy sinh; phòng ngừa, ngăn chặn sự can thiệp, móc nối của các thế lực thù địch. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội theo Luật An ninh mạng, trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội; rà soát, sửa đổi, ban hành mới các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong các hoạt động sử dụng internet và mạng xã hội; tổ chức tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và các quy định của Nhà nước về sử dụng internet và mạng xã hội, nhất là Luật An ninh mạng./.

TBQL 17

NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ AN NINH TƯ TƯỞNG

 


          Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và các cán bộ, đảng viên cần phải nghiêm túc thực hiện tốt giải pháp trên

          Bởi vì, đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận thức đúng về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; nhiệm vụ, nội dung của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng, nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Trọng tâm của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng hiện nay là phải đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; làm rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy giao lưu và hợp tác trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao đời sống của nhân dân lao động.

          Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến việc định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, đúng với bản chất sự việc, tránh bị lợi dụng, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải chủ động, tiến công. Do đó, các cơ quan thông tấn, báo chí phải bảo đảm việc cung cấp thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời, chính xác đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, cần quán triệt phương châm cơ bản trong bảo vệ an ninh tư tưởng là phải coi trọng công tác chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính. Mặt khác, phải tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, các hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm một cách quyết liệt./.

TBQL 17

NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền những quan điểm sai trái, xuyên tạc, với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trọng tâm là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, trọng yếu, cấp bách của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng; đồng thời là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và các cán bộ, đảng viên, nhất là trong thời điểm phòng chống tham nhũng của Đảng ta hienj nay.

          Trong những năm qua, việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị..., hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trận địa tư tưởng chính trị được giữ vững, khẳng định địa vị chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị - tinh thần ở Việt Nam.

          Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là thiếu đa dạng hóa các hình thức thông tin; chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của nhân dân; tính tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch còn hạn chế; chưa phát huy được hết vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí trong đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội… Các cơ quan chức năng có lúc còn thiếu chủ động trong việc định hướng, cung cấp thông tin; thông tin tích cực, chính thống có lúc, có nơi chưa chiếm được thế thượng phong so với các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, mạng xã hội còn hạn chế…

          Công tác thông tin đối ngoại, nhất là tuyên truyền, quảng bá nhằm nâng cao uy tín, vị thế và hình ảnh của Việt Nam ổn định và phát triển ở khu vực và trên trường quốc tế có lúc, có nơi còn hạn chế, nên ở nhiều khu vực, nhân dân thế giới chưa hiểu rõ về tình hình Việt Nam, bị tác động tiêu cực bởi những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

          Dự báo trong thời gian tới, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự phát triển bùng nổ của internet, mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, các thế lực thù địch, phản động ngày càng có những chiêu thức, thủ đoạn mới tinh vi hơn để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của đất nước. Ví dụ, trên lĩnh vực kinh tế, âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống và cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” theo kiểu phương Tây.

          Trên lĩnh vực đối ngoại, thông qua hoạt động “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nhất là về dân chủ, dân tộc, tôn giáo, từ đó lợi dụng quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận, móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, tạo dựng lực lượng “nòng cốt” cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trong. Trong hợp tác, giao lưu về giáo dục, đào tạo, các thế lực thù địch truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta./.

TBQL 17

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI

 


          Nghị quyết đã khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng trong bối cảnh mới cần có những giải pháp sau:

          Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra. Trong đó, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để xây dựng hệ thống luận cứ khoa học, làm sáng tỏ lý luận CNXH ở Việt Nam, lý luận đổi mới, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước pháp quyền XHCN trong tình hình mới... Đặc biệt, các tác phẩm lý luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng công bố gần đây cung cấp cho chúng ta những luận cứ hết sức quan trọng về vấn đề này cần chú trọng nhận thức và truyền bá sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân. Quán triệt, triển khai những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng một cách sâu rộng từ Trung ương đến địa phương, tạo sự đồng thuận trong xã hội.

          Hai là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cơ quan chức năng các cấp. Mỗi cơ quan, đơn vị cần duy trì tốt chuyên trang “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, “Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch”, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam để có biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời.

          Ba là, đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí cách mạng có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế  - xã hội của đất nước, của địa phương trong những năm qua để giành thế chủ động đấu tranh phản bác các thế lực thù địch về tư tưởng, lý luận trên internet và mạng xã hội.

          Thời gian gần đây, nhiều cơ quan thông tấn báo chí đã thực hiện rất tốt công tác này. Điển hình là các chương trình, chuyên mục nổi bật, như: Đối diện (Đài Truyền hình Việt Nam), Việc cần làm ngay, Bình luận phê phán (Báo Nhân Dân), Nhìn thẳng nói đúng (Đài Tiếng nói Việt Nam), Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (Báo Quân đội nhân dân); nhiều tuyến tin bài của Thông tấn xã Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xây dựng Đảng,… được quan tâm đầu tư với nhiều đổi mới, nội dung thuyết phục, hấp dẫn, sinh động, được dư luận đánh giá cao, tạo được hiệu ứng tốt trong xã hội. Cùng với đó, ở một số tạp chí, cơ quan báo chí chính trị chủ lực thuộc bộ, ngành, tổ chức xã hội đã tập trung luận giải và làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; vạch rõ chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội, báo chí nước ngoài để gây nhiễu loạn thông tin, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

          Bốn là, tăng cường công tác giáo dục về chính trị tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam có sức đề kháng, miễn nhiễm khi đọc các thông tin xấu độc. Công tác này cần được tổ chức thực hiện bài bản, kiên trì làm từ năm này sang năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Xử lý nghiêm những người suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo phương châm “xử lý một người để làm gương cho muôn người”, “Cắt một cành sâu để cứu cả cây”. Đồng thời, cổ vũ, biểu dương “người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục, tạo hiệu ứng tích cực, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tạo ảnh hưởng lan tỏa trong Đảng và xã hội.

          Năm là, tiếp tục nâng cao hiệu quả việc thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng thành các quy định trong Đảng và pháp luật của Nhà nước phù hợp với tình hình thực tế, như: Chỉ thị số 05-CT/TW 15/5/2016 của Bộ Chính trị “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải gương mẫu đi đầu thực hiện”, Quy định số 205- QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” và Quy định 69-QĐ/TƯ ngày 6/7/2022 “Về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm” để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh.

          Trong quá trình xây dựng và phát triển, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch trong mọi hoàn cảnh và tình huống. Thành quả to lớn có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới đất nước là minh chứng sống động khẳng định trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm của Đảng; khẳng định vai trò của việc kiên định, nắm vững và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu quan trọng này là điều kiện, tiền đề vững chắc, củng cố niềm tin, tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta xác định rõ những yêu cầu, nhiệm vụ cao hơn, với ý chí, khát vọng quyết tâm mạnh mẽ hơn để phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên theo định hướng XHCN./.

TBQL 17

NHẬN DIỆN NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG TẤN CÔNG VÀO NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 


          Hiện nay, đất nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước có nhiều thời cơ, thuận lợi mới, song cũng đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội vẫn ráo riết không từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; lợi dụng sự phát triển của internet và các trang mạng xã hội để có những hoạt động tinh vi, xảo quyệt hơn nhằm xóa bỏ con đường đi lên CNXH ở nước ta. Vì vậy, để tăng cường, nâng cao hiệu quả của công tác này, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và cả hệ thống chính trị cần nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động; xác định đâu sẽ là vấn đề cơ bản và cấp bách cần giải quyết hiện nay.

          Các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ rêu rao, Việt Nam muốn giàu có, thịnh vượng thì phải dũng cảm từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ con đường XHCN. Trong tư duy, nhận thức của các thế lực thù địch, phản động thì CNXH là nghèo nàn, lạc hậu; còn tư bản là văn minh, giàu có. Thực tiễn đã chứng minh rằng, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam chính là thực hiện chủ trương xóa áp bức, bóc lột, lạc hậu, bất công, nghèo khổ để đưa đất nước trở nên giàu có, thịnh vượng.

          Sau hơn 35 năm đổi mới, với sự nỗ lực của các thành phần kinh tế, sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Công tác xoá đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật được Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.     

          Các thế lực thù địch, phản động tập trung phê phán, đả kích, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; mưu toan đầu độc tinh thần của các thế hệ trẻ để cuối cùng lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Thủ đoạn của chúng là lợi dụng vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Nhà nước ta, trước thềm Đại hội XIII của Đảng tấn công, đưa ra các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

          Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng internet, mạng xã hội đăng tin, bài, video ở nước ngoài để tuyên truyền, bôi nhọ, thổi phồng những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân cán bộ đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền. Chúng gieo rắc ngờ vực, nghi kỵ, gây chia rẽ, lục đục nội bộ, hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, làm mất lòng tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ.  

          Các thế lực thù địch, phản động rêu rao quan điểm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là đường đi không có đích đến. Kinh tế thị trường là thực hiện cơ chế tự điều tiết, mà không cần ai chủ đạo. Đây là những quan điểm hoặc là phủ nhận sạch trơn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc thừa nhận đúng một phần, đúng trong quá khứ, không đúng trong hiện tại. Họ phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ở Việt Nam, mục tiêu hàng đầu trong hệ thống mục tiêu xây dựng xã hội XHCN được xác định là “dân giàu”, “nước mạnh”. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986), Đảng, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và hệ thống pháp luật phù hợp để từng bước thực hiện “dân giàu”, “nước mạnh”. Đó chính là phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động, coi trọng xói đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển kinh tế của đất nước.

          Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước rêu rao quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai toàn dân ở Việt Nam hiện nay, nhằm mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai. Họ xuyên tạc cho rằng, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thì đó là “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai. Khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn về đất đai xảy ra thì nhà nước thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng. Điều đó có nghĩa là phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng này. Trên thực tế ở các nước trên thế giới, khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Như vậy, với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay.

Các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Họ lập luận rằng, thời đại ngày nay là toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ đan xen, phụ thuộc lẫn nhau, nên Việt Nam duy trì chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy của thế giới bên ngoài”. Chính sách đối ngoại đó đã thực sự “lỗi thời, lạc hậu” đang trở thành lực cản đối với sự phát triển đất nước. Hơn nữa, thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế; với một Đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế. Từ đó, họ kêu gọi Việt Nam cần phải thực hiện đa đảng cho phù hợp với xu thế hội nhập.

          Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền, biển đảo để thông tin thất thiệt, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam và quan hệ hợp tác Việt Nam với các đối tác quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương. Chúng đưa ra một số luận điệu vu cáo lãnh đạo Việt Nam thỏa hiệp nhượng bộ vô nguyên tắc, bán đất, bán biển cho nước ngoài; kích động, lôi kéo đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền. Đặc biệt, cổ súy lôi kéo Việt Nam liên minh với nước lớn này để chống nước lớn kia.

          Từ rất sớm, tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, là nguyên tắc cốt lõi của đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam cho đến hiện nay. Độc lập có nghĩa là chúng ta tự “giải quyết mọi công việc” của mình, “không để bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ” của đất nước ta. Độc lập, tự chủ phải dựa trên cơ sở nội lực, thực lực của đất nước, đồng thời cũng dựa vào hợp tác và hội nhập quốc tế./.

TBQL 17