Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH COI VIỆC THỰC HIỆN DIỄN BIẾN HÒA BÌNH TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH

 


 

          Các thế lực thù địch coi việc thực hiện DBHB trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh (QP-AN) là khâu then chốt, lĩnh vực đối ngoại là khâu hỗ trợ quan trọng. Chúng tập trung xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm QP-AN của Đảng, chủ trương, chính sách QP-AN của Nhà nước ta. Chúng tìm mọi cách “phi chính trị hóa” quân đội và công an; tuyên truyền, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với quân đội và công an; gây mâu thuẫn trong nội bộ lực lượng vũ trang (LLVT). Lợi dụng các mối quan hệ, tiếp xúc về QP-AN, chúng mua chuộc cán bộ, chiến sĩ LLVT, làm chuyển hóa nội bộ LLVT về nhân sự, tổ chức; tìm cách thâm nhập, điều tra bí mật QP-AN, bí mật quân sự, đặc biệt là khả năng phòng thủ đất nước, trình độ, khả năng tác chiến của quân đội, tổ chức, biên chế, trang bị của LLVT, phương án xử trí trong các tình huống QP-AN; lôi kéo Việt Nam tham gia các liên minh quân sự. Chúng tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, gây cơ sở và phá hoại từ bên trong; kích động bạo loạn lật đổ, ly khai; khi gặp tình huống và thời cơ thuận lợi chúng có thể tổ chức lực lượng phản ứng nhanh, gây xung đột vũ trang để hỗ trợ cho lực lượng phản động bên trong tiến hành bạo loạn ở những địa bàn xung yếu, tổ chức tập kích đường không vào những mục tiêu chiến lược của ta, không loại trừ khả năng tạo cớ tiến hành chiến tranh xâm lược khi thời cơ chín muồi. Chúng xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, chủ trương và chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, chia rẽ, gây mâu thuẫn giữa Việt Nam với các nước láng giềng, khu vực và cộng đồng quốc tế. Chúng sử dụng các tổ chức ngoại giao của chính phủ, tổ chức ngoại giao nhân dân, các tổ chức phi chính phủ (NGO) để đòi Việt Nam thực hiện các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây.

          Nhìn tổng quát, chiến lược DBHB của các thế lực thù địch sử dụng phương thức tiến công tổng hợp, toàn diện, “mềm, ngầm, sâu”, dựa vào lực lượng đối lập phản động trong nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong nội bộ ta là chính; đẩy mạnh đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, kết hợp kích động bạo loạn lật đổ, ly khai, thực hiện răn đe quân sự từ bên ngoài, gây áp lực để làm tan rã, sụp đổ chế độ. Thực hiện phương châm “lấy chính trị làm đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ; QP-AN là then chốt; ngoại giao là hỗ trợ”, các thế lực thù địch sử dụng đa dạng các biện pháp, kết hợp nhiều thủ đoạn thâm độc để tiến hành DBHB.

          Nhận thức đầy đủ âm mưu, thủ đoạn thực hiện chiến lược DBHB của các thế lực thù địch trong tình hình mới là cơ sở để cán bộ, chiến sĩ trong LLVT và nhân dân thường xuyên nâng cao ý thức cảnh giác, tăng cường trách nhiệm, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

TBQL 17

KẾT HỢP CHẶT CHẼ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG

 


          Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là một bộ phận hợp thành chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, gồm tổng thể hoạt động của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, chủ động thực hiện các hình thức, biện pháp để ngăn ngừa, triệt tiêu từ sớm, từ xa các yếu tố mang nguy cơ gây hại đối với Tổ quốc, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Tháng 11-1999, Bộ Quốc phòng ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chỉ rõ phương thức bảo vệ Tổ quốc và nhấn mạnh “Đi đôi với xây dựng, bảo vệ Tổ quốc phải quán triệt thực hiện tốt quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ xa”(10). Đây là lần đầu tiên, vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ xa được Đảng ta thể hiện một cách cụ thể. Bảo vệ Tổ quốc từ xa là một nội dung quan trọng của đối ngoại quốc phòng. Thực tiễn đã chứng minh, hoạt động đối ngoại quốc phòng muốn đạt hiệu quả cao cần phải được tiến hành trong sự phối hợp chặt chẽ với các hoạt động đối ngoại khác của Đảng. Việc kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động đối ngoại trong cả nước, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và Nhà nước là một trong những bài học thành công nhất của đối ngoại Việt Nam. Những thành quả trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để đối ngoại quốc phòng đề ra phương châm, đối sách thích hợp nhằm xử lý các tình huống có thể xảy ra. Ngược lại, đối ngoại quốc phòng là tiền đề tạo nên những thành công của các hoạt động đối ngoại khác. Bởi lẽ, nhiều vấn đề trong quan hệ đối ngoại không thể giải quyết bằng các hoạt động đơn lẻ, mà phải có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, tạo sự tập trung thống nhất và sức mạnh tổng hợp cao. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch tổng thể gắn chiến lược đối ngoại với chiến lược quốc phòng, an ninh để định hướng cho các cấp, các ngành, các địa phương trong quá trình triển khai công tác. Các lực lượng chuyên trách công tác đối ngoại nói chung cũng như đối ngoại quốc phòng nói riêng phải tăng cường đoàn kết, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ thị, nghị quyết về đối ngoại quốc phòng thời kỳ mới, nhất là các quy định về bí mật quốc gia và an ninh chính trị, bí mật quân sự; triệt để khai thác mọi tiềm năng của đất nước, quân đội, kế thừa và phát huy kinh nghiệm, bản chất truyền thống của dân tộc, tư tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, phát huy tinh thần cách mạng tiến công, tích cực, chủ động. Để hoạt động đối ngoại đạt hiệu quả, các lực lượng làm công tác đối ngoại cần tạo sự thống nhất cao trong nhận định tình hình thế giới, khu vực, xu hướng các quan hệ quốc tế, nhất là quan hệ giữa các nước lớn; xử lý biện chứng mối quan hệ đối tác, đối tượng và đối sách, thời cơ và thách thức, từ đó đề xuất và thống nhất hành động để ứng phó kịp thời, hiệu quả trước các tình huống xảy ra làm phương hại đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

          Quan hệ giữa các nước lớn đã và đang tác động sâu sắc đến Việt Nam trên mọi phương diện, tiềm ẩn những nguy cơ có thể gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam, đặc biệt là vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Những sự kiện chính trị - quân sự gần đây ở Biển Đông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực hiện các cam kết về hợp tác trên mọi lĩnh vực giữa Việt Nam với các nước đối tác, trong đó có cả đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc và phát triển đất nước trước những tác động đến từ sự cạnh tranh chiến lược của các cường quốc./.

TBQL 17

NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH

 


          Thuận lợi

          Một là, vị trí địa lý thuận lợi. Nằm giữa khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á, Việt Nam có vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế quan trọng ở châu Á - Thái Bình Dương; đóng vai trò “cầu nối” giữa các nước ở khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Ấn Độ Dương. Có thể nói, sự dịch chuyển quyền lực giữa các nước lớn tại khu vực Đông Nam Á không thể không tính đến nhân tố Việt Nam. Mặt khác, sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á cũng làm gia tăng vai trò của Việt Nam trong việc trở thành “đầu mối” của các hợp tác và liên kết kinh tế trong khu vực và thế giới; với tư cách là “cửa ngõ” ra biển cho vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào và miền Bắc Thái Lan; là “đầu cầu” trên đất liền, trên biển, trên không giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Vị trí địa - chính trị của khu vực tạo thuận lợi cho Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, giữ vững độc lập, tự chủ và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Việt Nam không chỉ là thành viên tích cực của ASEAN, mà quan trọng hơn là nơi tiếp giáp, cầu nối trực tiếp cả phần đất liền và biển giữa Đông Nam Á với Đông Bắc Á. Nếu xu hướng đa cực, đa trung tâm tạo ra “nhiều không gian co giãn” trong lựa chọn chính sách, thì sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở Đông Nam Á sẽ tạo dựng thêm nguồn “tài nguyên - địa chính trị” của Việt Nam. Nhiều quốc gia trong khu vực, nhất là các nước lớn đều muốn tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam có cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hợp tác về quốc phòng, an ninh với các nước có tiềm lực quân sự, công nghệ hiện đại. Từ đó, thúc đẩy hiện đại hóa quân đội, gia tăng sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

          Hai là, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, gia tăng nguồn lực, tăng cường tiềm lực quốc phòng. Đối ngoại quốc phòng là một bộ phận không thể tách rời trong quá trình hội nhập quốc tế của đất nước. Với phương châm thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Xu thế toàn cầu hóa hiện nay là điều kiện thuận lợi để Việt Nam đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tạo cơ hội tiếp thu khoa học - kỹ thuật tiên tiến, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng và phát triển lực lượng quân sự, quốc phòng của các nước đối tác; góp phần xây dựng tiềm lực quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh, toàn diện, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

          Ba là, tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, thực hiện chiến lược quốc phòng, tạo thế đan cài, gia tăng khả năng phòng thủ đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Chiến lược quốc phòng Việt Nam là chiến lược phòng thủ quốc gia, bảo vệ đất nước, giữ nước từ sớm, từ xa, mang tính hòa bình, tự vệ bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại. Thực tế môi trường địa - chính trị - kinh tế thế giới hiện nay cho thấy, việc các nước lớn, vừa hòa hoãn, vừa tập hợp lực lượng, vừa cạnh tranh quyết liệt với nhau, sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tạo được thế đối trọng, cân bằng chiến lược, tạo thế đan cài trong mối quan hệ với các cường quốc, không để bị động bất ngờ, chi phối, gây sức ép từ bên ngoài; với mục đích cuối cùng là tạo dựng, giữ vững môi trường hòa bình và ổn định, tranh thủ mọi nguồn lực, điều kiện để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

          Khó khăn, thách thức

          Cạnh tranh quyền lực và điều chỉnh chiến lược của các nước lớn tạo ra nhiều khó khăn, thách thức đối với nhiệm vụ giữ vững độc lập, chủ quyền của Việt Nam, trong đó phải kể đến mối quan hệ giữa ba cường quốc Mỹ - Trung Quốc - Nga. Mỹ với mục tiêu duy trì vị thế siêu cường duy nhất, tiếp tục đẩy mạnh triển khai các chiến lược quân sự, an ninh toàn cầu bằng việc tập hợp lực lượng, điều chỉnh chính sách với từng khu vực để có thể kiểm soát, kìm hãm các thế lực thách thức “ngôi vị số một” của Mỹ. Trung Quốc với mục tiêu khẳng định vị thế cường quốc khu vực, quốc tế và hiện thực hóa “giấc mộng Trung Hoa” đã triển khai nhiều biện pháp, chiến lược, như nâng cao sức mạnh quân sự, chú trọng phát triển lực lượng hải quân, mở rộng hoạt động ra hướng biển, gia tăng ảnh hưởng của mình ở khu vực Đông Nam Á và từng bước cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nga với mục tiêu giành lại vị thế của mình tại các khu vực ảnh hưởng truyền thống đã không ngừng đẩy mạnh triển khai các chiến lược để khẳng định vị thế cường quốc của mình./.

TBQL 17

GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT HUY VAI TRÒ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

          Một là, nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, những thông tin tốt và tích cực, làm cho những nội dung thông tin này thực sự là chủ đạo, chi phối đời sống tinh thần - thông tin xã hội, “làm loãng” và đẩy lùi các thông tin xấu, độc, tiêu cực, các quan điểm sai trái, thù địch. Cần mở rộng và nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục định kỳ, các tuyến bài đấu tranh tư tưởng; liên kết thông tin với các nền tảng mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới một cách phù hợp.

          Hai là, các cơ quan báo chí cần tổ chức lực lượng trực tiếp đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, các thông tin xấu, độc bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng trên báo chí, trên các phương tiện thông tin đại chúng khác (internet, mạng xã hội,…) góp phần giữ vững trận địa tư tưởng. Tổ chức, củng cố và phát huy tốt vai trò của các lực lượng trực tiếp viết bài đấu tranh, đội ngũ cộng tác viên... đủ mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận và năng lực đấu tranh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích và bảo vệ lực lượng này trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Ba là, chủ động phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các “binh chủng” thông tin từ Trung ương đến địa phương, các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị. Sự phối hợp này cần bám sát thực tiễn, tích cực, chủ động, phát huy thế mạnh và vai trò của từng tờ báo, từng lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh. Trên cơ sở đó, tạo nên “thế trận đấu tranh” rộng khắp, thống nhất, chặt chẽ trong phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Bốn là, thực hiện tốt định hướng dư luận xã hội, đẩy lùi các thông tin xấu, độc, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hộiQuán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12-5-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về chủ động cung cấp thông tin, định hướng dư luận, đẩy lùi thông tin xấu độc”), coi trọng “lan tỏa thông tin tích cực, nâng cao nhận thức của nhân dân trước các thông tin sai sự thật”./.

TBQL 17

VAI TRÒ ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

 

          Thời gian qua, báo chí nước ta đã thể hiện rõ vai trò xung kích trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhiều tờ báo đấu tranh kịp thời, sắc bén, vạch rõ và làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; củng cố lòng tin của nhân dân đối với chế độ và sự lãnh đạo của Đảng.

          Báo chí đã phổ biến, tuyên truyền kịp thời, rộng rãi chủ trương, quan điểm chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng và công tác xây dựng Đảng, gắn với nhận diện và đấu tranh phòng, chống sự suy thoái, tham nhũng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đồng thời, tuyên truyền, truyền bá các giá trị đạo đức, văn hóa, lối sống tốt đẹp của con người Việt Nam, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội với tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”.

          Nhiều tờ báo mở chuyên trang, chuyên mục đăng tải các bài viết trực tiếp, trực diện đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Điển hình như chuyên mục: “Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch” của Tạp chí Cộng sản; “Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”” của Báo Quân đội nhân dân; “Bình luận - phê phán” của Tạp chí Quốc phòng toàn dân; “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam…liên tiếp có những bài đấu tranh chất lượng, có hiệu ứng xã hội tốt.

Các cơ quan báo chí đã thường xuyên trao đổi và phối hợp hiệu quả trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, chú ý đến định hướng giáo dục, định hướng đấu tranh và tổ chức lực lượng mang tính chuyên trách; truyền tải thông tin qua nhiều báo để tuyên truyền, tương tác với công chúng, qua đó nâng cao hiệu quả đấu tranh.

          Nhiều tờ báo đã tập hợp được các nhà khoa học, nhà lý luận, hoạt động thực tiễn có uy tín tham gia tọa đàm, hội thảo, viết bài phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Một số báo tổ chức tốt các diễn đàn trực tuyến, thông qua đó định hướng chính trị tư tưởng và nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về các vấn đề “nóng”, các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin xấu, độc và những vấn đề mà dư luận quan tâm. Nhiều cơ quan báo chí đã phát huy hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm, blog, kênh Youtube, tài khoản mạng xã hội… chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin xấu, độc. Việc ngăn chặn, giám sát, triệt phá các thông tin xấu, độc từ các báo, đài, các kênh báo mạng trong và ngoài nước được các cơ quan chức năng và cơ quan báo chí nước ta quan tâm đẩy mạnh, xử phạt nghiêm các vi phạm trong hoạt động báo chí.

          Thực hiện nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí cách mạng đã đóng vai trò rất quan trọng, thực sự là “vũ khí sắc bén” trong lĩnh vực này, là diễn đàn tin cậy của nhân dân, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, tình yêu quê hương, đất nước, củng cố lòng tin vào chế độ, vào sự lãnh đạo của Đảng của các tầng lớp nhân dân, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỹ thuật số và không gian mạng, vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp bách và gặp nhiều khó khăn./.

TBQL 17

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2022

NHỮNG YÊU CẦU BỨC THIẾT ĐẶT RA HIỆN NAY LÀ PHẢI XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY KHOA HỌC HỒ CHÍ MINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 


          Một là, chú trọng nâng cao tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau khi thấm nhuần phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải có khả năng dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, không lệ thuộc, rập khuôn, bắt chước người khác; có năng lực và bản lĩnh bảo vệ được quan điểm, chính kiến của mình; tự mình làm chủ mọi suy nghĩ, hành động, không bị a dua theo người khác; tự giác tìm tòi để sáng tạo, sẵn sàng tiếp thu cái mới, từ bỏ cái đã lỗi thời. Từ đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị.

          Hai là, khắc phục những thành kiến trong tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực chất vấn đề này là, chống chủ nghĩa giáo điều - giáo điều sách vở, giáo điều trong việc học tập kinh nghiệm của người khác; qua đó, giúp họ vượt lên trên những thành kiến, không lệ thuộc vào tập quán cũ, lạc hậu, biết giữ gìn và phát triển những tư tưởng truyền thống còn phù hợp, tiếp thu một cách có chọn lọc những tư tưởng mới, chủ động đề xuất những sáng kiến, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

          Ba là, nâng cao nhận thức, giáo dục, giúp cán bộ, đảng viên biết kết hợp giữa lý trí với tình cảm trong sáng, làm điều gì cũng luôn đặt lợi ích của tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Biết yêu thương con người, luôn sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ người khác, coi niềm vui, hạnh phúc của người khác cũng là niềm vui và hạnh phúc của mình. Lịch sử đã chứng minh rằng, những cá nhân nặng về lý trí mà thiếu tình cảm thì sớm hay muộn họ cũng sẽ rời bỏ con đường mà mình đã chọn. Không ít người vì thiếu một tình yêu trong sáng và mãnh liệt, không biết yêu thương, nghĩ đến người khác nên họ đã bị những cám dỗ ích kỷ, tầm thường trong cuộc sống cá nhân, dễ dẫn đến thoái hóa, biến chất, hư hỏng, trở thành những kẻ cơ hội, hại nước, hại dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

          Bốn là, trang bị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phương pháp tư duy thúc đẩy tính tự giác cao, phát huy tối đa năng lực chủ quan và coi trọng điều kiện khách quan, có khả năng kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, góp phần bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở hoạt động thực tiễn và phù hợp với điều kiện thực tiễn để hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Khi nắm vững phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ luôn có tính tự giác cao và biết vận dụng, thường chủ động xây dựng các kế hoạch, đề ra biện pháp cụ thể để triển khai công việc của mình một cách khoa học, hiệu quả.

          Năm là, tăng cường tổng kết, đúc kết những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo; phát hiện những gương điển hình tiên tiến để giáo dục, nêu gương cho đảng viên và quần chúng noi theo; xem xét kinh nghiệm, cách làm hay của cán bộ, đảng viên và cá nhân khác để áp dụng cho phù hợp với bản thân mình. Bên cạnh đó, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh cũng giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng tìm tòi, suy nghĩ, chủ động tiếp thu tri thức mới để bổ sung vào kinh nghiệm đã tích lũy, từ đó có phương pháp phù hợp để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra.

          Hiện nay, đứng trước những nhiệm vụ cách mạng mới, để giải quyết những vấn đề phong phú, sinh động, phức tạp mà cuộc sống đặt ra, không có con đường nào khác ngoài con đường nâng cao phương pháp tư duy, nhất là tư duy lý luận. Trong đó, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh là một mẫu mực, vẫn còn giữ nguyên giá trị và lợi ích thiết thực. Do vậy, việc nghiên cứu, học tập, vận dụng phương pháp tư duy Hồ Chí Minh để nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là một yêu cầu bức thiết, cần được triển khai một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống./.

TBQL 17

THƯỜNG XUYÊN TỔNG KẾT KINH NGHIỆM VÀ CHỦ ĐỘNG NẮM LẤY NHỮNG TRI THỨC MỚI CỦA PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY HỒ CHÍ MINH

 


          Quá trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quá trình không ngừng học tập, rèn luyện qua thực tiễn cách mạng. Trong quá trình đó, Người thường xuyên tổng kết kinh nghiệm và luôn có ý thức tìm tòi, nắm lấy những tri thức mới.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người rất nhạy cảm về chính trị. Sau khi gửi Bản yêu sách gồm tám điều của dân tộc Việt Nam tới Hội nghị Véc-xây (Pháp), Người đã nhận ra “cái bánh vẽ” chính trị mà chủ nghĩa đế quốc Mỹ đưa ra để gạ gẫm các dân tộc. Người nhấn mạnh “chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn. Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới. Kết luận quan trọng này là tiền đề tư tưởng quan trọng của chiến lược “dựa vào sức mình là chính” của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân, kết tinh đỉnh cao của tinh thần dân tộc, của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, khi tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, đoạn tuyệt với quan điểm “cầu viện” để giải phóng dân tộc. Năm 1920, sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã đứng hẳn về Quốc tế III, về phía V.I. Lê-nin, kiên quyết đấu tranh chống khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa trong nội bộ Đảng Xã hội Pháp, và đã trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đối với Người, mỗi lần phê phán cái sai lầm là mỗi lần tổng kết và rút ra được kinh nghiệm quý báu cho bản thân cũng như để hướng dẫn những cộng sự của mình.

          Không bằng lòng với những tri thức thu lượm được ở đất Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bôn ba khắp các châu lục để khám phá, tìm hiểu, thâu thái thêm những tri thức mới. Người đã chứng kiến cuộc sống khổ nhục của những người dân mất nước dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Đông Dương. Người đã phẫn nộ lên án chế độ tự xưng là “văn minh” nhất nhân loại ở Anh, Pháp, Mỹ. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vui mừng khi thấy cuộc sống mới trên quê hương Cách mạng Tháng Mười Nga. Đi đến đâu, Người cũng quan sát và suy nghĩ, chiêm nghiệm để tự rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân mình. Bằng sự nghiên cứu nghiêm túc nhất, với tinh thần trách nhiệm cao nhất trước dân tộc và giai cấp, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương là Đảng đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ lại càng chứng tỏ rõ rệt vai trò của giai cấp vô sản và đảng của nó trong phong trào giải phóng dân tộc”./.

TBQL 17

COI TRỌNG, GẮN KẾT ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VỚI PHÁT HUY NỖ LỰC CHỦ QUAN, KẾT HỢP HÀI HÒA GIỮA LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ CÓ TÍNH TỰ GIÁC CAO CỦA PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY HỒ CHÍ MINH

 

          Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới những điều kiện khách quan của cách mạng, đồng thời phát huy tính tích cực của nhân tố chủ quan để đề ra cương lĩnh chiến lược cách mạng một cách phù hợp. Chánh cương vắn tắt của Đảng (năm 1930) do Người soạn thảo có đoạn viết: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Sau này, các văn kiện của Đảng đã ấn định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

          Khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhận định về tình hình đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi... với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên những điều kiện khách quan, kết hợp với nhân tố chủ quan, trong đó có năng lực cá nhân xuất chúng, nhãn quan sắc bén để đề ra các chủ trương, đường lối đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng công tác tổng kết lý luận; bởi vì, theo Người, đó là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người trên tất cả mọi lĩnh vực. Người cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Do đó, nếu kế thừa được những kinh nghiệm đã được tổng kết thành lý luận, mỗi cá nhân sẽ có điều kiện nâng cao năng lực của bản thân để phát triển tốt hơn.

          Phương pháp tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc xem trọng nhân tố tự giácNgười cho rằng, nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân trong xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong mỗi con người đều có hai mặt đối lập: Thiện và ác, hay và dở, tốt và xấu,... Do vậy, điều quan trọng là, mỗi người phải dám nhìn thẳng vào bản thân mình, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phát huy những cái thiện, cái hay, cái tốt, đồng thời khắc phục cái ác, cái dở, cái xấu. Trong lần nói chuyện với thanh niên sinh viên tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II năm 1958, Người nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”./.

TBQL 17

ẮN LÝ TRÍ VỚI NHỮNG TÌNH CẢM TRONG SÁNG, TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI, THỰC HIỆN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ CẢI TẠO XÃ HỘI CỦA PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY HỒ CHÍ MINH

 

G

          Cốt lõi của tình cảm cách mạng là đạo đức cách mạng. Tình cảm cách mạng là khởi nguồn để có sáng tạo cách mạng. Khi tình cảm đã nhạt phai thì trí tuệ cũng sẽ chịu ảnh hưởng không tốt. Ngược lại, tình cảm mù quáng thì lý trí sẽ mất phương hướng. Tình cảm có những quy luật riêng của mình. Nếu là xúc cảm nhất thời, nó thường đi đôi với nhận thức cảm tính, bồng bột, thoáng qua và thiếu bền vững. Song ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tình cảm trong sáng, rất mãnh liệt bao giờ cũng chịu sự điều chỉnh, hướng dẫn chặt chẽ của lý trí. Đó là bởi, tình cảm của Người dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc về con người, điều chỉ có ở một nhân cách lớn. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về sự thống nhất giữa lý trí với những tình cảm trong sáng, thấm đẫm tình yêu thương con người.

          Ngay từ khi còn nhỏ, Người đã xúc động trước tình cảnh người dân trên quê hương mình bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột, hành hạ một cách dã man. Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, cho nên đi tới đâu Người cũng chú ý tới hai cảnh sống trái ngược giữa nhân dân lao động với tầng lớp thống trị, giữa người bóc lột và người bị bóc lột; đồng thời, luôn có sự thấu cảm sâu sắc trước những khó khăn, tủi nhục, vất vả của những người bị bóc lột và cuộc sống lầm than của nhân dân lao động.

          Tình yêu thương đồng bào, Tổ quốc và tình yêu thương con người đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đồng thời, chính lý luận cách mạng Mác - Lê-nin cũng nâng tầm những tình cảm trong sáng của Người, giúp Người có thêm nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và luôn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc và độc đáo về chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người cho rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ bao gồm các khái niệm trừu tượng, các quy luật, phạm trù và chỉ thuộc về nhận thức lý trí, mà còn bao hàm cả tình nghĩa, tức là gồm cả phương diện đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”.

          Lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn với những phong trào hành động nhằm xây dựng và cải tạo xã hội. Người cho rằng, tư duy lành mạnh tự nó bao giờ cũng hướng tới hành động cải tạo thực tiễn, cải thiện cuộc sống con người. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sôi nổi, phong phú và gian khổ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm vững mục tiêu chiến lược, đồng thời biết vận dụng sách lược một cách khôn khéo để đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Trong bức thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải làm gì? Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tùy hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta. Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”./.

TBQL 17

QUYẾT TÂM VƯỢT LÊN MỌI THÀNH KIẾN TƯ TƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY HỒ CHÍ MINH

 


          Đối với mỗi con người, để vượt qua được những thành kiến do lối mòn tư tưởng cũ chi phối là một việc không dễ. Trong khi đó, khác với tất cả những nhà yêu nước đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết vượt lên những thành kiến tư tưởng và thể hiện năng lực làm chủ bản thân rất cao. Không đi theo con đường cứu nước mà các vị tiền bối đã thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đi ra nước ngoài, tới chính đất nước của kẻ thù đang giày xéo, đặt ách thống trị lên Tổ quốc mình để tìm đường cứu nước, cứu dân, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, để tìm hiểu xem những gì ẩn giấu “đằng sau khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái là gì?”. Liệu người dân ở đó có được tự do, bình đẳng và hạnh phúc thực sự hay không?

          Ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không đồng tình với ý kiến cho rằng, Đông Dương chưa thể tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin do giai cấp vô sản ở Đông Dương chưa phát triển. Cùng với đó, Người đã tích cực tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản của V.I. Lê-nin và kiên quyết đấu tranh cho tư tưởng này được hiện thực hóa trên thực tế. Nguyễn Ái Quốc đề nghị: “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa”. Từ những điều kiện lịch sử - xã hội của các nước phương Đông, Người nhận thấy chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn có thể thâm nhập, tồn tại và phát triển ở châu Á, thậm chí còn dễ dàng hơn so với châu Âu: “những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”.

          Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ cũng như bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp. Tuy nhiên, Người không chỉ dừng lại ở việc trích dẫn 2 bản tuyên ngôn đó, khẳng định quyền tự do của mỗi cá nhân như tinh thần của 2 bản tuyên ngôn này, mà còn khẳng định quyền độc lập, tự do và quyền bình đẳng cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới./.

TBQL 17

ĐỀ CAO TINH THẦN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ SÁNG TẠO CỦA PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY HỒ CHÍ MINH


          Đây là nội dung bao trùm và điển hình nhất trong phương pháp tư duy Hồ Chí Minh. Trong phương pháp tư duy của Người, độc lập đồng nghĩa với không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi bất kỳ một lý luận nào nếu không có sự đánh giá cẩn trọng, khoa học của chủ thể. Mặc dù con đường nhận thức chân lý bao giờ cũng có sự kế thừa, nhưng là sự kế thừa biện chứng, kế thừa và phát triển với tính độc lập của chủ thể nhận thức, không phải là sự bắt chước, rập khuôn cách máy móc. Tự chủ có nghĩa là xuất phát từ vị trí, vai trò của mình, chủ thể tự thân làm chủ mọi suy nghĩ, hành vi của mình, làm chủ công việc của mình, tự thấy mình phải có trách nhiệm với tập thể, với quốc gia, với dân tộc mình. Sáng tạo là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ, cái lạc hậu, cái không còn phù hợp đang cản trở sự phát triển; đồng thời, tìm kiếm, học hỏi, đề xuất những cái mới có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống.

          Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phương pháp tư duy Hồ Chí Minh hình thành từ sớm, bộc lộ càng rõ trong quá trình Người tìm đường cứu nước. Đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thì tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo càng được nâng cao, đã trở thành một phẩm chất bền vững, được thể hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chính điều đó đã làm cho tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khác biệt so với tư duy của các nhà yêu nước tiền bối và đương thời, như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường... về con đường cứu nước, mặc dù không ai phủ nhận các ông đều mong muốn giành độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn của mình. Người đã tư duy để đối chiếu, so sánh, chắt lọc và tổng hợp những dữ liệu, những kinh nghiệm mà cuộc sống đã đem lại, những tư tưởng của các thế hệ đi trước đã gợi mở, để từ đó đi đến những nhận định mới, những kết luận mới và những tư tưởng mới. Phương pháp tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở tính cách mạng triệt để, tính biện chứng chặt chẽ và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Từ đó, Người đã từng bước xác lập cả một hệ thống tư tưởng, luận điểm sáng tạo của riêng mình./.

TBQL 17