Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới những điều kiện khách quan của cách mạng,
đồng thời phát huy tính tích cực của nhân tố chủ quan để đề ra cương lĩnh chiến
lược cách mạng một cách phù hợp. Chánh cương vắn tắt của Đảng (năm 1930) do
Người soạn thảo có đoạn viết: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản
Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang
được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng,
nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên
nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng
hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Sau này, các văn kiện của Đảng đã
ấn định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là, tiến hành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, không qua
chế độ tư bản chủ nghĩa.
Khi
miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhận định về tình hình đất nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết: “trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ,
với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân
rộng rãi... với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước
hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng
lợi”. Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn dựa trên những điều kiện khách quan, kết hợp với nhân tố chủ
quan, trong đó có năng lực cá nhân xuất chúng, nhãn quan sắc bén để đề ra các
chủ trương, đường lối đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng công tác tổng kết lý luận; bởi vì,
theo Người, đó là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người trên tất cả mọi
lĩnh vực. Người cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp
những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Do
đó, nếu kế thừa được những kinh nghiệm đã được tổng kết thành lý luận, mỗi cá
nhân sẽ có điều kiện nâng cao năng lực của bản thân để phát triển tốt hơn.
Phương pháp tư duy của Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn được thể hiện ở việc xem
trọng nhân tố tự giác. Người cho rằng, nền đạo đức mới chỉ có thể được
xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân trong xã hội. Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong mỗi con người đều có hai mặt đối lập: Thiện và ác,
hay và dở, tốt và xấu,... Do vậy, điều quan trọng là, mỗi người phải dám nhìn
thẳng vào bản thân mình, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phát huy những cái thiện,
cái hay, cái tốt, đồng thời khắc phục cái ác, cái dở, cái xấu. Trong lần nói
chuyện với thanh niên sinh viên tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II năm
1958, Người nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho
nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng
với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét