Đối với mỗi con người, để
vượt qua được những thành kiến do lối mòn tư tưởng cũ chi phối là một việc
không dễ. Trong khi đó, khác với tất cả những nhà yêu nước đương thời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn biết vượt lên những thành kiến tư tưởng và thể hiện năng lực
làm chủ bản thân rất cao. Không đi theo con đường cứu nước mà các vị tiền bối
đã thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đi ra nước ngoài, tới chính đất
nước của kẻ thù đang giày xéo, đặt ách thống trị lên Tổ quốc mình để tìm đường
cứu nước, cứu dân, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, để tìm hiểu xem
những gì ẩn giấu “đằng sau khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái là gì?”. Liệu
người dân ở đó có được tự do, bình đẳng và hạnh phúc thực sự hay không?
Ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không đồng
tình với ý kiến cho rằng, Đông Dương chưa thể tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin
do giai cấp vô sản ở Đông Dương chưa phát triển. Cùng với đó, Người đã tích cực
tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản của V.I.
Lê-nin và kiên quyết đấu tranh cho tư tưởng này được hiện thực hóa trên thực
tế. Nguyễn Ái Quốc đề nghị: “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất
cả các nước thuộc địa”. Từ những điều kiện lịch sử - xã hội của các nước phương
Đông, Người nhận thấy chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn có thể thâm nhập, tồn tại và
phát triển ở châu Á, thậm chí còn dễ dàng hơn so với châu Âu: “những lý do lịch
sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”.
Trong bản Tuyên
ngôn độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản Tuyên
ngôn độc lập của Mỹ cũng như bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp. Tuy nhiên,
Người không chỉ dừng lại ở việc trích dẫn 2 bản tuyên ngôn đó, khẳng định quyền
tự do của mỗi cá nhân như tinh thần của 2 bản tuyên ngôn này, mà còn khẳng định
quyền độc lập, tự do và quyền bình đẳng cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế
giới./.
TBQL 17
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét