Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

Quyền hạn của Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh


Quy định số 67-QĐ/TW, ngày 2.6.2022 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong đó xác định quyền hạn của Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh

1. Yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ, cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền của địa phương báo cáo công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; về xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý thông tin về hành vi tham nhũng, tiêu cực; việc thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền lãnh đạo, quản lý.

2. Yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực; chỉ đạo xem xét lại việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý khi có căn cứ cho rằng việc kết luận, xử lý chưa khách quan, chính xác, nghiêm minh.

3. Yêu cầu các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của địa phương kết luận, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Trực tiếp chỉ đạo về chủ trương xử lý đối với một số vụ án, vụ việc cụ thể hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền xem xét lại việc giải quyết hoặc giải quyết lại nhằm bảo đảm việc xử lý nghiêm minh, đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong trường hợp cần thiết quyết định thành lập các tổ công tác liên ngành để chỉ đạo thực hiện, phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

4. Kiến nghị với ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ xem xét, quyết định hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương kiểm tra, xử lý kịp thời theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước khi có căn cứ cho rằng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng, vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực hoặc có hành vi cản trở, gây khó khăn đối với hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

5. Yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và các cơ quan chức năng của địa phương trong quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nếu phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, cấp uỷ các cấp quản lý thì kịp thời báo cáo cho Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, cấp uỷ quản lý cán bộ đó để chỉ đạo xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ, thành uỷ, uỷ ban kiểm tra thuộc cấp uỷ quản lý cán bộ đó để kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng. Trường hợp phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý thì kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương theo quy định, đồng thời báo cáo thường trực tỉnh uỷ, thành uỷ và Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh. Trong quá trình kiểm tra, thanh tra, thi hành án, nếu phát hiện sai phạm có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cơ quan điều tra để xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi kết thúc mới chuyển.

6. Trực tiếp làm việc với cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong phạm vi nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; khi cần thiết, được sử dụng bộ máy tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và phương tiện của các cơ quan, tổ chức có liên quan của địa phương để phục v

Chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh

 


Quy định số 67-QĐ/TW, ngày 2.6.2022 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong đó xác định:

Chức năng: Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh do ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương thành lập, chịu trách nhiệm trước ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong việc chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương).

Nhiệm vụ Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh

Một là: Tham mưu, đề xuất ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ xây dựng, ban hành nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch để cụ thể hoá và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương.

Hai là: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoặc tham mưu, đề xuất ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kết luận, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương và kết luận, kiến nghị của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương.

Ba là: Chỉ đạo, đôn đốc, điều hoà phối hợp, kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch của tỉnh uỷ, thành uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Bốn là: Chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ thông qua hoạt động theo phạm vi trách nhiệm được giao làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra tham nhũng, tiêu cực; những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật để yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục sai phạm; đồng thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật có liên quan.

Năm là: Chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng và các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

Sáu là: Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và cấp uỷ viên, đảng viên có thẩm quyền trong xử lý khiếu nại, tố cáo về hành vi tham nhũng, tiêu cực và xử lý thông tin về vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực do các cá nhân, tổ chức phát hiện, cung cấp, kiến nghị.

Bảy là: Chỉ đạo tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch của tỉnh uỷ, thành uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; định hướng cung cấp thông tin về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chỉ đạo xử lý vi phạm quy định về quản lý, cung cấp thông tin, đưa tin về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và những hành vi lợi dụng việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây mất đoàn kết nội bộ.

Tám là: Tổ chức sơ kết, tổng kết, định kỳ và đột xuất báo cáo ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, Ban Chỉ đạo Trung ương về tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương và kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

Chín là: Thực hiện các nhiệm vụ khác do ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban Chỉ đạo Trung ương giao.NTM./.

SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN, ĐƠN VỊ LÀM CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG NGÀY CÀNG HIỆU QUẢ

 


Thời gian qua, ở cấp Trung ương, cùng với sự ra đời của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng là sự thành lập Ban Nội chính Trung ương - cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng. Từ sau Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, nhiều tỉnh trên cả nước cũng áp dụng mô hình này của Trung ương là thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng và Ban Nội chính cấp tỉnh. Việc kiện toàn tổ chức bộ máy từ Trung ương đến cấp tỉnh đã làm cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành được tiến hành bài bản, đồng bộ theo đúng phương châm “dọc ngang thông suốt”, khắc phục đáng kể tình trạng “trên nóng dưới lạnh”. Điều này xuất phát từ nhu cầu tất yếu của thực tiễn bởi tham nhũng là hiện tượng tiêu cực không chỉ xảy ra ở các cơ quan, bộ ngành Trung ương mà cũng diễn ra ở các địa phương, trở thành vấn đề nổi cậm gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Sau khi kiện toàn tổ chức bộ máy, các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng đã phối hợp thường xuyên, đồng bộ với các cơ quan thi hành pháp luật như công an, tòa án, kiểm sát để điều tra, truy tố, xét xử những cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng. Do đó, các vụ án đã nhanh chóng được điều tra, xét xử, hạn chế đáng kể tình trạng án kéo dài, đọng án gây bức xúc trong dư luận. Nhiều vụ án lớn được đưa ra xét xử trong thời gian gần đây đã thể hiện rõ tính chuyên nghiệp, bài bản, đúng trình tự của quá trình xử lý sai phạm. Đó là kết quả của công tác phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị chức năng trong công tác phòng, chống tham nhũng, nhất là sự phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra, giám sát, nội chính của Đảng với cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra; giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán với cơ quan điều tra; giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương, địa phương và các bộ, ngành chức năng.

Ngoài ra, hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng cũng đã được tăng cường. Nhiều vụ án tham nhũng có dấu hiệu tẩu tán tài sản hay đối tượng trốn chạy ra nước ngoài đã được các tổ chức pháp luật quốc tế phối hợp, giúp đỡ để truy tố, xử lý vừa theo đúng quy định quốc tế, vừa phù hợp với quy định pháp luật của Việt Nam. Công tác phòng, chống tham nhũng cũng từng bước được mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước, thể hiện rõ quyết tâm của Đảng trong việc chỉ đạo xử lý những sai phạm của cán bộ ở tất cả các thành phần kinh tế.

Có thể khẳng định, chưa bao giờ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lại được thực hiện một cách mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, bài bản và hiệu quả như thời gian gần đây; để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Những thành quả đó là một bằng chứng thuyết phục để phản bác những hoài nghi, mọi sự xuyên tạc của các phần tử phản động, cơ hội chính trị về công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, có ý kiến cho công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam chỉ là “trò đánh trống khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, thực chất là “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe phái”(4); hay đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, “cộng sản chỉ nói chứ không dám làm”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép”(5) … Cũng có những người do nhận thức mơ hồ hoặc có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nên cho rằng nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển đất nước.

Thực tiễn cho thấy, những kết quả không thể phủ nhận trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian qua đã góp phần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức, có quyền “tự soi”, “tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Điều đó cũng làm cho các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Do đó, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam thời gian qua thể hiện rõ dã tâm chính trị muốn hạ thấp vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng; chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định: “Chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đặc biệt là góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân, bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”(6)

Những bước tiến mới trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam thời gian qua là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của Đảng; sự vào cuộc đồng bộ, có trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành, địa phương; sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội và sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân. Những kết quả đó chính là điều kiện, tiền đề để đất nước ta tiếp tục vượt qua những khó khăn, thử thách, từng bước thực hiện thành công những mục tiêu Đại hội Đảng XIII đã đề ra và xa hơn nữa là thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. NTM./

 

 

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC, TUYÊN TRUYỀN, GIÁM SÁT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 


Theo sự chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến địa phương, thời gian qua, công tác giáo dục, tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng đã được tăng cường, góp phần thay đổi đáng kể nhận thức, thái độ, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các cơ quan, đơn vị và nhân dân.

Ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng đã được tuyên truyền, quán triệt, trở thành nội dung cốt lõi trong quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nhiều cơ quan, đơn vị đã tổ chức sinh hoạt chuyên đề về phòng, chống tham nhũng nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên những biểu hiện của tham nhũng và cách thức phòng, chống phù hợp, hiệu quả.

Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Gần đây, nội dung về phòng, chống tham nhũng đã được lồng ghép thường xuyên trong các chương trình thời sự, phóng sự chính luận trên các chuyên mục: Xây dựng Đảng, Đảng trong cuộc sống hôm nay, Đối diện…  càng góp phần đẩy mạnh tuyên truyền, tạo độ lan tỏa rộng rãi về sự quyết tâm, quyết liệt và những nỗ lực của Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng.

Các cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị - xã hội cũng ngày càng phát huy được vai trò to lớn trong giám sát công tác phòng, chống tham nhũng. Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không chỉ giám sát thường xuyên tại các kỳ họp mà tần suất giám sát chuyên đề về phòng, chống tham nhũng cũng được tăng lên. Hội đồng nhân dân các cấp quan tâm giám sát nhiều hơn đối với công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương. Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên tăng cường giám sát các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, gây nhiều bức xúc trong nhân dân; giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các thông tin do báo chí nêu về tham nhũng. Nhân dân ngày càng tích cực tham gia giám sát, phản biện với hoạt động của các cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên…, phản ánh, tố giác nhiều vụ, việc tham nhũng gây thất thoát tài sản lớn của Nhà nước. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư khẳng định trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022, công tác phòng, chống tham nhũng giờ đây không còn manh mún, vụ việc nhỏ lẻ nữa mà đã trở thành một phong trào rộng khắp, thu hút sự hưởng ứng, sự tham gia đông đảo của cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng như của các cấp, các ngành, các địa phương trên cả nước và trở thành “một xu thế không thể đảo ngược”. NTM./.

CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐƯỢC TRIỂN KHAI ĐỒNG BỘ, QUYẾT LIỆT, HIỆU QUẢ

 


Nhận thấy tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngày càng gia tăng, ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng, tệ quan liêu, là một trong bốn nguy cơ làm cản trở thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đây, Đảng ta có nhiều nghị quyết chuyên đề liên quan trực tiếp đến công tác phòng, chống tham nhũng như Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa IX về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, khóa XIII…

Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước cũng ban hành cả hệ thống các văn bản pháp luật để chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả trong việc phát hiện và xử lý những vụ việc tham nhũng. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương được thành lập và hoạt động ngày càng có hiệu quả, thực chất. Nhà nước cũng ban hành Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí… Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, cho đến nay, “nhiều quy định, nghị quyết được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống; khắc phục được một bước những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng..., các chủ trương, quy định của Đảng, các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta cơ bản đã tương đối đầy đủ”.

Nhờ đó, “công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Vì vậy, trong thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng; được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao.

Với tinh thần chỉ đạo quyết liệt của Trung ương, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử nhanh chóng, khắc phục đáng kể tình trạng án đọng kéo dài gây bức xúc trong dư luận xã hội. Đánh giá về điều này, báo cáo tóm tắt tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022 đã nêu rõ: “Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Riêng Ban Chỉ đạo đã đưa 977 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ”.

Gần đây, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận và thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, công tác phòng chống tham nhũng có thêm một bước tiến mới. Theo đó, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng có thể được xem như là “cánh tay nối dài của Trung ương” nhằm giải quyết một cách kịp thời những vấn đề tồn đọng, kéo dài gây bức xúc dư luận ở địa phương. Đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế và góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. NTM./.

Con đường “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa"

 


Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, con đường “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" thường diễn ra qua ba giai đoạn, ứng với ba mức độ. Ở giai đoạn ban đầu, đối tượng thể hiện sự hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Giai đoạn hai, biểu hiện ở mức độ thấp của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", đối tượng bắt đầu chủ động hơn trong tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu chống đối, những lý luận phản động, bắt đầu thích nghe, thích kể, thích mọi người nói về tiêu cực. Về hành động, đối tượng bắt đầu có các hoạt động câu kết với các phần tử thù địch từ bên ngoài để tiếp tay cho chúng thực hiện hoạt động "Diễn biến hòa bình" và "chuyển hóa nội bộ". Biểu hiện rõ nhất là hoạt động thu thập, tổng hợp tin tức nội bộ ta để chuyển ra nước ngoài, giúp các phần tử phản động, thù địch từ bên ngoài sử dụng trong các hoạt động chống lại ta thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hoạt động quốc tế. Những đối tượng "tự diễn biến" trở thành những phần tử "hoạt động có tính chất nội gián". Bản chất chính trị của hoạt động này là chống đối song chưa đủ thời gian và chứng cứ để kết luận họ đã là kẻ làm gián điệp cho nước ngoài hay là kẻ phản bội Tổ quốc hay chưa. Giai đoạn ba, là giai đoạn ở mức độ cao của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đối tượng đã hoàn toàn bộc lộ tư tưởng phản động, chống đối, thể hiện rõ tư tưởng chính trị phản động, sẵn sàng đối đầu với pháp luật và hệ thống chính trị. Họ không còn biết sợ hãi trước sức mạnh pháp luật và chính trị. Thậm chí, họ sẵn sàng hành động để làm thay đổi hệ thống chính trị. Họ chủ động tìm đến những phần tử đang "tự diễn biến" để tập hợp lực lượng, hình thành nhân lõi tổ chức ban đầu. Là cán bộ, đảng viên, công dân Việt Nam hãy tự soi, tự sửa và cảnh giác để không bị "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". NTM./.

 

 

 

Sự suy thoái không có “thẻ miễn trừ”

 


Chúng ta chưa quên một sự thật ở Liên Xô khi tiến hành cải tổ, một Đảng cộng sản cầm quyền “tự chuyển hóa” đã tự triệt tiêu mình do xa rời và từ bỏ Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, ảo tưởng chấp nhận “cả gói” trào lưu tư tưởng tư sản phương Tây và tư tưởng của chủ nghĩa xã hội dân chủ, khiến đất nước rơi vào hỗn loạn về tư tưởng và đường lối, đánh mất trụ cột tinh thần và năng lực tập hợp tư tưởng, đánh mất luôn năng lực phân biệt phải trái, đúng sai trong cán bộ, đảng viên; khiến cho một cá nhân tuyên bố giải thể Đảng mà 21 triệu đảng viên im lặng chấp nhận. Có người cho rằng, sự tan rã của Liên Xô là hệ quả trực tiếp và chủ yếu từ chiến lược “Diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch phương Tây tiến hành, nhưng đó chỉ là nguyên nhân bên ngoài. Nếu không có nguyên nhân bên trong thì không thể nào xảy ra thảm họa chính trị ở thành trì của CNXH như vậy. Nguyên nhân bên trong ấy, thực chất là Đảng Cộng sản Liên Xô đã “tự chuyển hóa” ở ngay hàng ngũ lãnh đạo cấp cao, rơi vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội, bài xích nguyên tắc tập trung dân chủ, phản bội lý tưởng XHCN dẫn đến Đảng cộng sản bị suy thoái, biến chất do quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi... Bài học “tự chuyển hóa” từ các đảng cộng sản ở Liên Xô, Đông Âu trước đây là bài học nhãn tiền, đắt giá với chúng ta. Ở nước ta, ngay từ khi chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến việc chống thoái hóa, biến chất cho cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng. Ngay trong tác phẩm Đường Cách mệnh viết năm 1927, Người chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa thì cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”.

"Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là hiện tượng như những mạch ngầm “thẩm thấu” êm dịu. Đó là quá trình âm thầm diễn ra bên trong mỗi cá nhân, tổ chức. Các nhà khoa học xã hội cho rằng, cũng như căn bệnh phụ thuộc vào sức đề kháng của người bệnh, sự “miễn dịch” của người cán bộ, đảng viên trước sự thẩm thấu “tự diễn biến” phụ thuộc vào độ vững vàng về chính trị và độ thanh liêm về đạo đức, lối sống của họ. Đảng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập sâu rộng với thế giới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là những bước đi tất yếu, hợp quy luật nhưng bản thân con đường ấy vốn rất phức tạp và đầy mâu thuẫn. Đó là con đường đầy cám dỗ vật chất rất dễ khiến con người sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, lãng phí; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết, “lợi ích nhóm”; cán bộ quan liêu, xa dân, sống xa hoa, hưởng lạc. Nó cũng sẽ thúc đẩy quá trình phân hóa giàu nghèo trong xã hội và ngay trong Đảng. Chúng ta hơn lúc nào hết hãy sống cho đáng sống, không để tiền bạc, lợi ích làm phai nhạt sự nghiệp, cuộc đời của mỗi con người. NTM./.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”


Nhận thức chung về “tự diễn biến” được hiểu là quá trình đấu tranh giữa các mặt tích cực và tiêu cực trong nội tâm cán bộ, đảng viên trước những tác động phức tạp của tình hình đất nước và quốc tế. Trong đó, yếu tố tiêu cực, sai lầm và tư tưởng tư bản chủ nghĩa dần dần tăng lên; yếu tố tích cực, cách mạng, tư tưởng XHCN phai nhạt dần. Đây là quá trình biến đổi từ bên trong chủ thể, đến một thời điểm nhất định, sự biến đổi này sẽ dần chuyển thành hành động của chủ thể. “Tự chuyển hoá” là sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến”. Khi sự biến đổi về chất đã làm thay đổi quan điểm tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, dẫn đến hành động chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Như vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người đảng viên cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm Mác-xít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hoá” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của cá nhân nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hoá làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa sang con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, người dân việt Nam có trách nhiệm cần phải xây dựng cho mình có bản lĩnh, lập trường, tư tưởng kiên định vững vàng không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ở bản thân, cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư. NTM./.

Cuộc chiến giữ niềm tin

 


Đảng đã nhận định: “Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ có mặt bị giảm sút”. “Niềm tin” có lẽ là một trong những từ khóa chính trị được nhắc đến nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay. Niềm tin của nhân dân với Đảng, niềm tin vào vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước; niềm tin của cán bộ, đảng viên vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; vào Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh... đang bị thử thách rất gay gắt. Vì thế, Đảng, Nhà nước ta đang ra sức xây dựng, củng cố lòng tin trong nhân dân bằng hành động cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động lại đang ra sức chống phá quyết liệt, tìm mọi cách kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước. Trong “cuộc chiến không tiếng súng” để giành và giữ niềm tin ấy, xuất hiện nhân tố thứ ba, nhân tố “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” trong Đảng. Phòng, chống được nhân tố “nội xâm” này, Đảng ta, nhân dân ta sẽ giành chiến thắng vẻ vang trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. NTM./.

Đấu tranh trên mạng xã hội

 


 Trong bối cảnh internet mang lại nhiều tác động tích cực, song cũng tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng xấu đến văn hóa truyền thống, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, các cơ quan chức năng cần tăng cường quản lý, định hướng đối với sự phát triển của mạng xã hội. Do đó, tăng cường đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ.

 Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin và tài liệu có nội dung xấu, độc trên mạng xã hội là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị. Hệ thống tuyên giáo Đảng là một bộ phận cấu thành trong hệ thống tổ chức của Đảng, trực tiếp góp phần thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng, cần tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng; xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Thực tiễn sôi động và phức tạp của đời sống xã hội trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác tuyên giáo. Đây là một trong những vũ khí sắc bén chống lại âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Cần quản lý mạng xã hội như một công cụ thể hiện quyền tự do của con người song tuyệt đối không để các thế lực phản động lợi dụng xuyên tạc, tiến hành các hoạt động chống phá chế độ.

Tháng 10-2015, Chính phủ đã lập 02 tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” nhằm cung cấp cho người dân những thông tin thời sự nhất về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Việc lập trang mạng xã hội vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, vừa định hướng dư luận, đồng thời giúp Nhà nước tăng cường quản lý xã hội bằng chính công cụ hữu hiệu này. “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” trở thành phương thức truyền thông hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến nhân dân, cung cấp tri thức và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Hai trang mạng này cũng góp phần định hướng hành vi của cá nhân, giám sát và quản lý xã hội, kết nối ý Đảng với lòng dân. Cũng nhờ mạng xã hội mà trong những ngày thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg về giãn cách xã hội, người dân vẫn nắm bắt nhanh chóng, đầy đủ các thông tin về tình hình chính trị - xã hội, phòng chống dịch bệnh, tiến hành các hoạt động làm việc, giao lưu trực tuyến, giảng dạy online, thương mại điện tử, trao đổi thông tin liên lạc.

 “Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề cực kỳ quan trọng và hệ trọng, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ; là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng; là điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(2); công tác giáo dục lý luận chính trị, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đóng vai trò quan trọng.Để tiếp tục nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa và các quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động trên mạng xã hội, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng về những vấn đề thời sự lớn, những vấn đề mới trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những vấn đề quan trọng trong nước và quốc tế là góp phần tạo ra sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; củng cố niềm tin, cổ vũ phong trào cách mạng.

Cần có chế tài xử phạt nghiêm minh với những hành vi cố tình đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật lên mạng xã hội, hành vi xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại quan hệ quốc tế của đất nước.

Nâng cao hiệu quả đấu tranh ngăn chặn các nội dung xấu độc, quan điểm sai trái trên mạng xã hội là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cần tăng cường quản lý chặt chẽ các hoạt động trên không gian mạng, phát huy ưu thế của mạng xã hội trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN RÚT RA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG

 

            Là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đối ngoại quốc phòng vừa là thành tố của nền quốc phòng toàn dân, vừa là cầu nối gắn kết đối ngoại với quốc phòng. Về bản chất, đối ngoại quốc phòng là cách ứng xử với bên ngoài nhằm thực hiện tốt công cuộc phòng thủ đất nước từ bên trong, thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ xa và góp phần củng cố sức mạnh quốc phòng. Mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là góp phần ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, giảm thiểu các thách thức an ninh phi truyền thống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy mở rộng quan hệ quốc phòng, an ninh với các quốc gia, các định chế, các tổ chức quốc tế; đưa quan hệ đã được xác lập đi vào thực chất, chiều sâu, hiệu quả; gia tăng mức độ đan xen, gắn kết lợi ích chiến lược; nâng cao vị thế quốc tế của đất nước và lực lượng vũ trang, khai thác có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để tăng cường thế và lực của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại; tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế và quá trình hội nhập trên các lĩnh vực khác của đất nước; giữ vững môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.

          Đối ngoại quốc phòng với đặc trưng cơ bản là vừa hợp tác, vừa đấu tranh, xây dựng lòng tin giữa các quốc gia, lực lượng vũ trang trong khu vực và trên thế giới; “kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, thực hiện kế sách tối ưu là bảo vệ Tổ quốc mà không phải tiến hành chiến tranh”. Cùng với xác định các mục tiêu, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng chỉ rõ phương châm, nguyên tắc hoạt động của đối ngoại quốc phòng khi tiến hành thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là: “Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược”; “Giữ trong ấm ngoài êm, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”; “Kiên quyết, kiên trì, vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn, bớt thù; giữ cân bằng chiến lược...”.

          Đại hội XIII của Đảng dự báo về môi trường chiến lược của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”. Sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đứng trước nhiều vận hội mới nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thử thách đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đúng đắn và hiệu quả; tạo dựng thế và lực vững mạnh; thực hiện kế sách giữ nước đúng đắn, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, không để bị động, bất ngờ, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột. Phải thực hiện bằng được: “Kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”./.

TBQL 17

NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU CẦN TẬP TRUNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG TOÀN DÂN, QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VÀ DÂN QUÂN TỰ VỆ

 

            Với xây dựng lực lượng toàn dân, phải tập trung củng cố vững chắc hệ thống chính trị, bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là hạt nhân của lực lượng quốc phòng, có vai trò quyết định trong huy động, phát huy sức mạnh quốc phòng của đất nước. Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng các lực lượng chuyên trách, lực lượng kiêm nhiệm và lực lượng rộng rãi trong các ngành, các cấp, các lĩnh vực, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và điều kiện của từng vùng, miền, địa phương trên cả nước.

          Với xây dựng Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ, cần tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, tổ chức tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt, hiệu quả; cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý, phù hợp với quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; đồng thời, sẵn sàng phát triển lực lượng đáp ứng yêu cầu của chiến tranh. Theo đó, bộ đội chủ lực phải được tổ chức tinh nhuệ, có khí tài hiện đại và hỏa lực mạnh; trang bị, phương tiện cơ động nhanh, có thể đảm nhiệm tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Bộ đội địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của từng địa phương, trên từng địa bàn lãnh thổ, vùng, miền, biên giới, ven biển, hải đảo; được trang bị vũ khí phù hợp, phát huy hiệu quả trong khu vực phòng thủ. Lực lượng dự bị động viên phải được xây dựng hùng hậu, rộng khắp, đủ số lượng, chất lượng cao, phục vụ phát triển Quân đội khi cần thiết. Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng vững mạnh, rộng khắp, chất lượng cao, phù hợp với các địa phương, các thành phần kinh tế, các cơ sở sản xuất - kinh doanh, đơn vị hành chính sự nghiệp./.

TBQL 17

NHỮNG PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ DUY VÀ NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG

 

            Nền quốc phòng Việt Nam dựa vào sức mạnh toàn dân, toàn diện của lực lượng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Lực lượng toàn dân gồm các ngành, các cấp và quần chúng nhân dân; là lực lượng đông đảo nhất, nhanh nhất, kịp thời nhất và là chỗ dựa vững chắc nhất của quốc phòng. Lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

          Đại hội XIII của Đảng xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng lực lượng quốc phòng với mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ vững mạnh. Về nhiệm vụ xây dựng lực lượng quốc phòng, tại Ðại hội XII, Đảng ta mới chỉ xác định: “ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” nhưng đến Ðại hội XIII, Đảng đã chỉ rõ, phải xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại: “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”.

          Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực quốc phòng, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen đối với mọi quốc gia, dân tộc. Sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị, kỹ thuật quân sự hiện đại đã làm thay đổi cơ bản tổ chức quân đội, hình thái, phương thức tiến hành chiến tranh. Đặc biệt, sự ra đời của hình thái chiến tranh mạng, chiến tranh vũ trụ, vai trò của trí tuệ nhân tạo, phương tiện tự hành thế hệ mới... đã tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải có những lực lượng hiện đại để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trước mọi kẻ thù xâm lược.

          Ðại hội XIII của Ðảng cũng tiếp tục khẳng định, nhấn mạnh và đặt ra yêu cầu phải xây dựng Quân đội nhân dân “vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội... tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, Nhà nước và nhân dân”. Đồng thời, bổ sung nhiệm vụ mới: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự”; “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”.

TBQL 17

DỰ BÁO ĐÚNG, TRÚNG, KỊP THỜI, CHÍNH XÁC TÌNH HÌNH THẾ GIỚI, KHU VỰC, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG

 

          Tình hình thế giới, khu vực luôn thay đổi đã tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Nước ta là một bộ phận của thế giới. Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta”. Do vậy, dự báo kịp thời, chính xác về tình hình thế giới, khu vực có ý nghĩa hết sức quan trọng để mọi hoạt động đối ngoại của Đảng, trong đó có đối ngoại quốc phòng luôn giành thể chủ động, không rơi vào thế bị động, bất ngờ.

          Đặc trưng của đối ngoại quốc phòng không chỉ là công tác ngoại giao đơn thuần của Bộ Quốc phòng, mà còn bao gồm các hoạt động đối ngoại trong lĩnh vực quốc phòng giữa nước ta và các nước, các tổ chức quốc tế, liên quan trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc và an ninh, hòa bình ở khu vực, thế giới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát công tác đối ngoại quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc rằng “không chỉ là ngoại giao đơn thuần mà thông qua hoạt động đối ngoại để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Vì vậy, công tác đối ngoại quốc phòng phải luôn bám sát tình hình thế giới, khu vực, qua đó chỉ ra được xu hướng phát triển của cục diện chính trị, an ninh thế giới và khu vực, dự báo được các tình huống có thế xảy ra làm phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc một cách kịp thời, qua đó góp phần tham mưu cho Đảng và Nhà nước các đối sách ứng phó với từng chủ thể trong quan hệ quốc tế một cách đúng đắn. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng, cả về phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật, trình độ ngoại ngữ... Mặt khác, thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để kịp thời điều chỉnh, bổ sung dự báo chính xác, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng sự gia tăng đan xen lợi ích giữa các nước, cần phải có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng đặc biệt của đối ngoại quốc phòng, bởi đối ngoại quốc phòng góp phần ngăn chặn các nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

TBQL 17

CHỦ TRƯƠNG ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


          Hoạt động đối ngoại quốc phòng hiện nay được triển khai mạnh mẽ và hội nhập ngày càng sâu rộng (Việt Nam thiết lập quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia và tổ chức quốc tế; đặt Văn phòng tùy viên quốc phòng tại Liên hợp quốc và 37 nước; có 49 nước đặt Văn phòng tùy viên quốc phòng, quân sự tại Việt Nam), mở rộng trên nhiều lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo.

          Hợp tác quốc phòng đa phương là phương thức chủ yếu để tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, thông qua các diễn đàn an ninh khu vực và thế giới, nâng cao vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 nhấn mạnh, đối ngoại quốc phòng đa phương cần tập trung: “Chủ động, tích cực cùng với các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh; triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị - An ninh đến năm 2025; tham gia xây dựng và triển khai các quy tắc, luật lệ của ASEAN; đề xuất sáng kiến nhằm duy trì hòa bình, ổn định khu vực; tham gia và đóng góp định hình các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà Việt Nam là thành viên, trước hết là các cơ chế do ASEAN giữ vai trò trung tâm, như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, hợp tác quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh”; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học quốc tế về quốc phòng - an ninh khu vực.

          Đối ngoại quốc phòng song phương là phương thức chủ đạo nhằm đưa quan hệ quốc phòng đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định và bền vững, góp phần tạo sự đồng thuận trong quan hệ quốc phòng đa phương. Do đó, thời gian tới, công tác đối ngoại quốc phòng song phương cần ưu tiên thúc đẩy quan hệ đối ngoại quốc phòng với các nước láng giềng, nhất là các nước có chung đường biên giới, thông qua các hình thức như: giao lưu hữu nghị biên giới, tăng cường hợp tác tuần tra chung, trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, di cư, nhập cư bất hợp pháp. Mặt khác, hợp tác quốc phòng song phương cần được mở rộng theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, triển khai hợp tác trên cơ sở các thỏa thuận đã được ký kết. Nghiên cứu xây dựng đề án quan hệ quốc phòng lâu dài với các đối tác quan trọng, chú trọng hợp tác về nghiên cứu chiến lược, hiện đại hóa quân đội nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đất nước và đối phó với các thách thức an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống./.

TBQL 17

NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG CHÂM, BÁM SÁT ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG

 


          Quốc phòng là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Vì vậy, công tác đối ngoại quốc phòng phải luôn giữ vững nguyên tắc trong đối ngoại, đó là giữ vững chủ quyền, môi trường hòa bình, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và các quy tắc ứng xử của khu vực trong giải quyết các vấn đề về lãnh thổ, biên giới.

          Trong tình hình mới, đối ngoại quốc phòng phải thực hiện theo phương châm tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Tích cực, chủ động thể hiện ở tinh thần tích cực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; là khả năng nghiên cứu, dự báo chính xác, khả năng lập kế hoạch có tính khả thi cao, năng lực thực hiện kế hoạch trên mọi lĩnh vực của hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Chắc chắn là giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh đạt được các mục tiêu đề ra. Tính chắc chắn thể hiện trong việc thận trọng xem xét toàn diện mọi khía cạnh, tránh chủ quan, nóng vội, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ. Linh hoạt là quán triệt tư tưởng “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Linh hoạt trong đối ngoại quốc phòng còn thể hiện ở sự vận dụng sáng tạo các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế”, Nghị quyết 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo” vào quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Hiệu quả là thước đo chất lượng công tác đối ngoại quốc phòng, là việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, xác định đúng nhu cầu thực tế, mục tiêu đề ra, lộ trình phù hợp với khả năng, năng lực hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng của từng đơn vị trong từng thời gian nhất định. Hiện nay, khi các nước đều đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu sẽ có thể nảy sinh bất đồng bởi sự khác biệt về lợi ích trong quan hệ quốc tế. Để giữ vững lợi ích quốc gia - dân tộc, đối ngoại quốc phòng phải nắm vững và tuân thủ đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhất là chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế), mà trọng yếu là không tham gia liên minh quân sự chính là biểu hiện rõ nét nhất đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng trong bối cảnh mới./.

TBQL 17

CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA HIỆN NAY

 


          “Diễn biến hòa bình” (DBHB) là một chiến lược phản cách mạng do các thế lực thù địch tiến hành nhằm thủ tiêu chế độ XHCN và chống phá các nước phát triển theo hướng tiến bộ bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” nội bộ. Nhận thức đúng đắn về nội dung, thủ đoạn thực hiện chiến lược DBHB của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn đó, là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng.

          Lúc đầu, chiến lược DBHB do các thế lực thù địch đề xuất và tổ chức thực hiện nhằm ngăn chặn, chống phá các nước XHCN. Đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, chiến lược đó được mở rộng ra đối với các nước độc lập dân tộc phát triển theo hướng tiến bộ. Qua hơn nửa thế kỷ tồn tại, chiến lược DBHB đã trải qua 3 giai đoạn chủ yếu:

          Giai đoạn hình thành, khảo nghiệm chiến lược DBHB để ngăn chặn CNXH (từ cuối những năm 50 đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX): các thế lực thù địch tập trung ngăn chặn CNXH và chủ nghĩa cộng sản bằng biện pháp quân sự là chủ yếu; DBHB ngày càng được chú ý phát triển thành một chiến lược chống cộng hoàn chỉnh. Giai đoạn thực hiện chiến lược DBHB để xóa bỏ CNXH (từ giữa những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX): các thế lực thù địch có sự chuyển hướng trọng điểm từ kiềm chế, răn đe bằng quân sự là chủ yếu sang thực hiện DBHB để thủ tiêu hệ thống XHCN; DBHB trở thành bộ phận quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Giai đoạn đẩy mạnh thực hiện chiến lược DBHBtiến hành “cách mạng màu” để xóa bỏ hoàn toàn CNXH, chống phá độc lập dân tộc của các nước phát triển theo hướng tiến bộ (từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay): trên cơ sở điều chỉnh chiến lược toàn cầu, các thế lực thù địch chuyển hướng sang tiến hành “chiến lược can dự”, tăng cường can thiệp vào các nước bằng các biện pháp cứng rắn, sẵn sàng “đánh đòn phủ đầu”, “giành quyền tiến công trước”; đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện DBHB, tiến hành “cách mạng màu” nhằm thủ tiêu hoàn toàn CNXH; khống chế các quốc gia, dân tộc ở những khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng trên thế giới.

          Việt Nam là một nước kiên trì đi theo con đường XHCN, có vị trí quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, nên các thế lực thù địch tập trung chống phá hết sức quyết liệt. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, chiến lược DBHB của các thế lực thù địch đã được triển khai thực hiện ở nước ta với nội dung toàn diện, bằng nhiều thủ đoạn thâm độc./.

TBQL 17

KIÊN QUYẾT, CHỦ ĐỘNG VẠCH TRẦN MỌI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Ngay từ khi chủ nghĩa Mác mới ra đời, giai cấp vô sản và những người cộng sản đã tổ chức đấu tranh làm thất bại những đòn tiến công hiểm độc của chủ nghĩa cơ hội và các trào lưu tư tưởng tư sản phản động. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ nội dung, hình thức, lực lượng phương tiện, thủ đoạn chống phá của chúng đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là không giống nhau. Do vậy, để đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, trước hết chúng ta cần nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mà các lực lượng phản động, cơ hội chính trị sử dụng để chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đây thực chất là công tác nắm địch trong đấu tranh cách mạng, để “biết địch, biết ta trăm trận trăm thắng”. Việc nắm địch không dừng lại ở việc nắm âm mưu, thủ đoạn chung mà phải tiến tới nắm rõ nhân thân, sở trường, sở đoản của những kẻ có tư tưởng thù địch, cơ hội chính trị; mục đích cụ thể, mục đích lâu dài, cơ sở tư tưởng, nguồn gốc phát sinh, phát triển của những luận điệu chống phá mà họ sử dụng.  Hơn nữa, những nội dung này cần sớm phổ biến kịp thời tới các lực lượng tham gia đấu tranh và lưu trữ trong kho dữ liệu dưới những hình thức phù hợp, vừa mang tính bảo mật cao, vừa dễ dàng truy cập, phổ biến khi cần thiết./.

TBQL 17

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC LỰC LƯỢNG, PHƯƠNG TIỆN TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG TRONG TUYÊN TRUYỀN, ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI

 

Để đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, các bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương cần sử dụng và phát huy hiệu quả các cơ quan chức năng trong nắm, đánh giá, dự báo tình hình; tham mưu kịp thời với cấp ủy đảng, chính quyền các nội dung biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; cung cấp thông tin, kịp thời định hướng tư tưởng, nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm diễn ra trong đời sống xã hội. Sử dụng và phát huy hiệu quả các cơ quan báo chí, truyền thông, các thiết chế văn hóa ở cơ sở; bám sát các sự kiện chính trị của đất nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để xác định nội dung, biện pháp tuyên truyền, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta; nêu cao ý thức cảnh giác, chủ động phát hiện và đấu tranh kịp thời với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch./.  

          

TBQL 17

XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, CÓ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CAO

 

Đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Muốn vậy, phải không ngừng củng cố tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng, là biện pháp “tự đề kháng” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù. Xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, thực sự là hạt nhân chính trị ở cơ quan, đơn vị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ năng lực, uy tín và trình độ để giáo dục, thuyết phục và định hướng cho quần chúng trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, tiếp tục thực hiện có hiệu quả sinh hoạt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm, khắc phục thái độ thờ ơ, bàng quan, mất cảnh giác trước các quan điểm sai trái. Phấn đấu mỗi tổ chức đảng, mỗi chi bộ là một pháo đài vững chắc trên trận địa đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước./.

TBQL 17

PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ DUY VÀ NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN


            Thế trận là một trong những nội dung cơ bản của xây dựng nền quốc phòng toàn dân, của nghệ thuật quân sự. Trong điều kiện thời bình, chúng ta có điều kiện xây dựng, bố trí thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận phòng thủ chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng chuyển hóa thế trận chiến tranh nhân dân khi có nguy cơ xảy ra chiến tranh xâm lược. Thế trận quốc phòng được xây dựng cả thế trận trong nước và thế trận ở ngoài nước, nhất là các địa bàn trọng điểm chiến lược; liên kết chặt chẽ nội địa với biên giới, đất liền với biển, đảo; biển, đảo gần bờ với xa bờ. Thế trận quốc phòng phải được tổ chức toàn diện bao gồm cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao và “thế trận lòng dân”. Liên quan đến xây dựng thế trận quốc phòng, Đại hội XIII của Đảng có những phát triển mới về nhận thức và tư duy gồm:

          Một là, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Xây dựng “thế trận lòng dân” là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng Việt Nam; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và cả hệ thống chính trị.

          “Thế trận lòng dân” là nhân tố luôn được Đảng quan tâm trong xây dựng nền quốc phòng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, “thế trận lòng dân”. Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Đại hội XII của Đảng xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh vững chắc... Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền an ninh nhân dân. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”.

          Xây dựng thế trận quốc phòng được tiến hành toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, song phải lấy xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là then chốt. Mặt khác, bên cạnh tiếp tục coi trọng việc xây dựng “thế trận lòng dân”, thì Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung yêu cầu phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Điều này cho thấy Đảng ta đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố “thế trận lòng dân” và cần phát huy mạnh mẽ nhân tố này vào thực tiễn xây dựng tiềm lực quốc phòng.

          Hai là, tư duy mới trong kết hợp mối quan hệ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nghị quyết Đại hội XII xác định: Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã có sự phát triển tư duy mới về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Trong đó, nội dung “đối ngoại” không còn tách riêng mà được đặt cùng với “kinh tế, văn hóa, xã hội”. Việc kết hợp này thể hiện tư duy, yêu cầu đòi hỏi hiện nay để phù hợp với vị thế của Việt Nam cũng như xu thế hợp tác quốc tế. Đại hội XIII của Đảng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn, không chỉ “kết hợp chặt chẽ” như Đại hội XII của Đảng đặt ra mà còn phải “kết hợp hiệu quả”. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”. Điều này thể hiện tư duy, tầm nhìn vừa chiến lược, toàn diện, vừa cụ thể, thực tiễn để bảo đảm sự kết hợp có hiệu quả./.

TBQL 17