Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC, NÂNG CAO NHẬN THỨC, NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN

 


Giáo dục, nâng cao nhận thức và nhận diện được quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là vấn đề hết sức quan trọng. Tình trạng nhận thức không đúng, nhận diện không chính xác các quan điểm sai trái, thù địch có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản xuyên suốt là do chúng ta chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chưa tuyên truyền sâu rộng trong xã hội; phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch chưa trở thành động lực bên trong thôi thúc mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tích cực tham gia. Để công tác này đạt hiệu quả thiết thực, mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, bí thư cấp ủy các cấp phải là tấm gương trong học tập và nghiên cứu lý luận, phải nhận diện được và có quan điểm rõ ràng trước các quan điểm lệch lạc, thù địch, từ đó tuyên truyền, giáo dục và vận động đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống.

Hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách giáo điều, máy móc, giản đơn, cảm tính, tư duy kinh nghiệm, không hiểu rõ bản chất các học thuyết, quan điểm, tư tưởng,… những biểu hiện đó sẽ làm suy giảm nghiêm trọng uy tín, sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo điều kiện để các thế lực thù địch tấn công, xuyên tạc làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Vì vậy, các cấp ủy đảng phải luôn nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong nhận thức, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh./.

TBQL 17

TIẾP TỤC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới không chỉ là đặc trưng bản chất, một thuộc tính vượt trội so với các học thuyết lý luận khác trong lịch sử, mà còn là mệnh lệnh, yêu cầu của cuộc sống chúng ta. Đây là một trong những biện pháp tốt nhất đúng như lời dạy của Ph.Ăngghen “Mỗi khi có những phát minh vạch thời đại, chủ nghĩa duy vật phải thay đổi hình thức của mình”. Là người đấu tranh, bảo vệ và phát triển thành công chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin cũng chỉ ra rằng: “Không có gì là lạ nếu trên con đường phát triển của chủ nghĩa Mác đều phải kinh qua chiến đấu; mỗi lần chiến đấu thắng lợi chủ nghĩa Mác lại càng được củng cố, hoàn thiện”. Ở đây, quan niệm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng cần được hiểu một cách mềm mại với nhiều trình độ, quy mô, phạm vi khác nhau, có thể diễn ra ở qui mô lớn, đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới, như V.I.Lênin đã từng thực hiện, nhưng cũng có thể là sự vận dụng sáng tạo, phát triển một, hoặc một số luận điểm trong toàn bộ hệ thống những quan điểm, học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khả năng bảo vệ, phát triển của nó không chỉ ở sức mạnh và khả năng tự thân, mà quan trọng hơn, nằm ở hoạt động của triệu triệu quần chúng, cán bộ, đảng viên cộng sản, khi họ đã yêu quý gắn bó với nó, trên cơ sở nhận thức sâu sắc sự đúng đắn bản chất cách mạng khoa học của nó. Vì vậy, tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được tiến hành một cách cơ bản, hệ thống, có chiều sâu với những nội dung, hình thức đa dạng, phù hợp với từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể. Đó là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới./.

TBQL 17

CẦN PHÁT HUY HƠN NỮA VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ, LỰC LƯỢNG CHUYÊN TRÁCH TRONG PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

 

          Hiện nay, trong điều kiện internet, mạng xã hội ngày càng phát triển và trở nên phổ cập, việc cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội tiếp nhận những thông tin đa chiều, phải, trái, trắng, đen, đúng, sai lẫn lộn là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, hơn lúc nào hết, các cơ quan báo chí và lực lượng nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trong toàn quân cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời có những bài viết có cơ sở khoa học phản bác; phê phán những quan niệm lệch lạc, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội; chủ động nắm bắt thông tin, định hướng dư luận trước những vấn đề nóng bỏng mà xã hội cũng như cán bộ, chiến sĩ đang quan tâm, chú ý. Trong một số trường hợp, cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành chức năng để xác định, ngăn chặn, xử lý đối tượng vi phạm ẩn danh trên mạng xã hội; thậm chí, yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (Google, YouTube, Facebook,...) ngăn chặn không cho xuất hiện hoặc gỡ bỏ những thông tin vi phạm pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Đồng thời, tích cực tuyên truyền những điển hình tiên tiến trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, gương “người tốt, việc tốt” trong thực hiện Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị chú trọng thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhằm ngăn chặn không cho các hiện tượng tiêu cực từ bên ngoài có điều kiện tiếp xúc và xâm nhập vào nội bộ đơn vị.

          Thực hiện tốt vấn đề trên có tác dụng tăng cường “sức đề kháng”, vừa ngăn chặn tiếp xúc với “dịch bệnh”, nếu tổ chức thực hiện tốt sẽ không còn chỗ cho virus “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tồn tại và các quan điểm sai trái cũng không có môi trường để xuất hiện; bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có ý chí quyết tâm cao, vượt qua gian khổ, hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó./.

TBQL 17

CHỦ ĐỘNG, LINH HOẠT TRONG ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

          Dự báo hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng thì gian tới ngày càng tinh vi, phức tạp, khó lường, vì thế; chúng ta chủ động đấu tranh trên không gian mạng như sau:

          Thường xuyên cập nhật và nắm vững quan điểm thông tin tuyên truyền của Đảng và Nhà nước mà trước hết và quan trọng nhất là hiểu rõ các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước,  bám sát sự chỉ đạo và định hướng thông tin của cấp trên. Tuy nhiên, các báo không nên thụ động chờ sự chỉ đạo mà cần linh hoạt, chủ động định hướng thông tin trong nội bộ để phản bác, hoặc đề xuất xin ý kiến với cấp có thẩm quyền để kịp thời đưa thông tin phản hồi, chỉnh hướng hoặc bác bỏ thông tin sai lệch.

          Cần phải chủ động, kịp thời; tổ chức thông tin tốt: Trong cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng, các tòa soạn phải chủ động khắc phục được tình trạng “điểm trắng”, “vùng trắng” về thông tin; triệt tiêu khả năng, cơ hội chiếm lĩnh cạnh tranh của các thông tin độc hại ngoài luồng đối với các thông tin chính thống của báo chí trong nước. Đây là phương thức hữu hiệu nhất ngăn chặn, đẩy lùi một cách chủ động các thông tin sai trái của kẻ thù.

          Sự linh hoạt thể hiện cụ thể ở việc sử dụng, phát huy có hiệu quả nhất ưu thế nhanh nhạy và tính đa phương tiện của báo điện tử; xác định rõ, khi nào cần huy động cả hệ thống, khi nào chỉ huy động một bộ phận; khi nào cần sự tham gia của báo chí Trung ương, khi nào chỉ cần sự tham gia của báo chí địa phương; khi nào cần báo chí trong nước, khi nào cần và bằng cách nào để có thể khai thác, tranh thủ báo chí hải ngoại, báo nước ngoài để đưa thông tin có lợi cho ta, tăng cường khả năng thuyết phục với công chúng ngoài nước và các quốc gia trên thế giới.

          Chủ động trong việc phân tích và dự báo tình hình: Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả, nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục của thông tin, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và cơ quan chức năng cần chủ động hơn trong việc phân tích, dự báo tình hình, chỉ đạo nhạy bén, kịp thời để cơ quan báo chí phản ứng nhanh nhạy, làm chủ thông tin trên mặt trận đấu tranh với thông tin, quan điểm sai trái, mang tính vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

          Dự báo tốt tình hình, dự báo các sự kiện sẽ xảy ra, dự báo dư luận, dự báo nhu cầu thông tin của xã hội, dự báo xu hướng phát triển các phương tiện truyền thông, dự báo khả năng, khuynh hướng và thủ đoạn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc của các phần tử bất mãn với chế độ, các phần tử cơ hội chính trị, các thế lực thù địch chống phá Đảng và Nhà nước ta… sẽ tạo lợi thế khi tuyên truyền, phản bác thông tin sai lệch. Chỉ khi làm tốt công tác dự báo mới có đủ cơ sở dữ liệu để xây dựng các kế hoạch thực hiện tuyến tin phản hồi, chỉnh hướng và bác bỏ thông tin sai lệch một cách phù hợp, đồng thời giành được thế chủ động, tránh bị động, lúng túng, dẫn đến tình trạng “đánh vớt” không hiệu quả thường thấy trong thực tế hoạt động báo chí của ta./.

TBQL 17

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG, CỦA CẤP ỦY ĐẢNG CÁC CẤP TRONG QUÂN ĐỘI

 


          Một là, tăng cường giáo dục, xây dựng lập trường, tư tưởng chính trị kiên định, vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ, nâng cao sức đề kháng”, khả năng miễn dịch” trước quan điểm sai trái trên không gian mạng.

          Đây là giải pháp cơ bản, xuyên suốt, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước quan điểm sai trái cho cán bộ, chiến sĩ. Cấp ủy các cấp cần quán triệt, thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII). Tăng cường giáo dục bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Kịp thời thông tin có định hướng các sự kiện, vấn đề nảy sinh; chỉ rõ dấu hiệu nhận biết chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng. Từ đó, giúp cán bộ, chiến sĩ nêu cao cảnh giác, không dao động trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng, tăng cường “sức đề kháng”, đề cao trách nhiệm, tính tự giác trong đấu tranh, phản bác quan điểm, sai trái, thù địch.

          Hai là, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

          Đây là giải pháp căn cơ trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch, lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

          Ba là, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng nòng cốt, vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

          Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng đấu tranh nòng cốt vừa có chức năng tham mưu, chỉ đạo, định hướng đấu tranh, vừa kịp thời cung cấp thông tin để thực hiện các biện pháp đấu tranh triệt phá thông tin xấu độc và giữ vai trò chủ đạo trong vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng đấu tranh nòng cốt, chuyên sâu linh hoạt, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với từng cơ quan, đơn vị; phát huy hiệu quả đội ngũ cộng tác viên trong tham gia viết bài đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các báo, tạp chí. Đồng thời, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.

          Bốn là, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội.

          Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, không tạo “khoảng trống” để các thế lực thù địch chống phá là một nội dung quan trọng trong thực hiện phương châm chỉ đạo của công tác tư tưởng, nhằm tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp, chế độ cung cấp thông tin, bảo đảm cho các thông tin chính thống đến trước, đến sớm với cán bộ, chiến sĩ để định hướng tư tưởng; thông tin kịp thời các phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, như: chỉ rõ mục tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác, làm cơ sở cho các lực lượng viết tin, bài đấu tranh. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong hoạt động đấu tranh.

          Năm là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ đấu tranh trên internet, mạng xã hội; tăng cường trao đổi kinh nghiệm đấu tranh giữa các cơ quan, đơn vị, lực lượng.

          Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu, khai thác hiệu quả các phần mềm kiểm soát, phân loại thông tin trên mạng xã hội. Tiếp tục phát triển các giải pháp công nghệ truyền thông; đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật phục vụ lực lượng tham gia đấu tranh trên internet, mạng xã hội; kịp thời bóc gỡ thông tin xấu độc không để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiếp cận được với thông tin này. Duy trì tổ chức tốt hội nghị rút kinh nghiệm và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, làm cơ sở cho các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu nâng cao kỹ năng đấu tranh trên mạng xã hội. Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trao đổi thông tin, kinh nghiệm hay, cách làm mới, hiệu quả trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

TBQL 17

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

TƯ DUY VÀ NHẬN THỨC VỀ MỤC TIÊU, LỘ TRÌNH XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

           Kế thừa các quan điểm từ Đại hội XII về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung, phát triển, xác định rõ hơn mục tiêu, lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam, cụ thể là: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại” với lộ trình “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(7). Đây là lần đầu tiên, Đảng xác định rõ mục tiêu và lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam.

          Việc Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu, lộ trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam là tư duy mới, phù hợp với xu thế, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cũng như tiềm lực của đất nước hiện nay. Cụ thể là:

          Một là, về dự báo tình hình, Đại hội XIII của Đảng có những đánh giá: Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt... Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới... Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột... Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới rất hiện đại, công nghệ cao, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, khó lường. Trước tình hình đó, việc đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, hiện đại hóa quân đội là xu thế chung trên thế giới và nước ta không thể đứng ngoài cuộc.

          Hai là, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi mới, ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này, phải làm tốt công tác tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc (nhiệm vụ được Đảng ta xác định là trọng yếu, thường xuyên); chủ động xử lý có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; vừa ngăn ngừa nguy cơ xung đột, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

          Ba là, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc chính là cơ sở quan trọng để thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” theo kế sách “chủ động giữ nước từ khi nước chưa nguy”, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Sự vững mạnh của quân đội, công an và nền quốc phòng, an ninh là tiền đề để đất nước phát triển ổn định, bền vững, là điều kiện quan trọng mở rộng và thu hút đầu tư, du lịch, thúc đẩy kinh tế phát triển, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

          Bốn là, mục tiêu xây dựng Quân đội mà Đại hội XIII của Đảng xác định phù hợp với điều kiện của nước ta và hoàn toàn có tính khả thi khi kinh tế, xã hội của đất nước tiếp tục phát triển, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 35 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; tiềm lực kinh tế và quốc phòng của nước ta có bước phát triển nhanh, có điều kiện đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đồng thời kết hợp mua sắm phương tiện, trang bị vũ khí hiện đại tăng cường sức mạnh cho quân đội, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn qua 10 năm thực hiện chủ trương “ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng” đã đạt được những kết quả quan trọng và thu được nhiều kinh nghiệm quý. Đây chính là cơ sở vững chắc để đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

          Xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân ta, được triển khai thực hiện dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Trong quá trình xây dựng quân đội tiến lên hiện đại, phải thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng: Quân đội ta tiến lên hiện đại dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống dân tộc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam phải bắt đầu trước hết là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; thực hiện “người trước, súng sau”. Mục đích xây dựng quân đội vững mạnh là để phòng thủ và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, hóa giải nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

          Để triển khai thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân và mục tiêu, lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân, trước hết là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải quán triệt thật sâu sắc và đề cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII ở cơ quan, đơn vị theo đúng sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Duy trì thực hiện nghiêm nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật; tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh, toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Bảo đảm thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp đã xác định trong định hướng giai đoạn 2021 - 2025 xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại. Đặc biệt, các quân chủng, binh chủng, lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại phải thực sự nỗ lực phấn đấu rất cao để hiện đại hóa đồng bộ cả về con người, tổ chức lực lượng, vũ khí, trang bị, phương thức và trình độ tác chiến cùng các mặt bảo đảm khác, đáp ứng tốt các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

TBQL 17

KẾT HỢP MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI, ĐỐI NGOẠI VỚI QUỐC PHÒNG, AN NINH THEO TƯ DUY MỚI

 


          Nghị quyết Đại hội XII xác định: Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã có sự phát triển tư duy mới về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Trong đó, nội dung “đối ngoại” không còn tách riêng mà được đặt cùng với “kinh tế, văn hóa, xã hội”. Việc kết hợp này thể hiện tư duy, yêu cầu đòi hỏi hiện nay để phù hợp với vị thế của Việt Nam cũng như xu thế hợp tác quốc tế. Đại hội XIII của Đảng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn, không chỉ “kết hợp chặt chẽ” như Đại hội XII của Đảng đặt ra mà còn phải “kết hợp hiệu quả”. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”. Điều này thể hiện tư duy, tầm nhìn vừa chiến lược, toàn diện, vừa cụ thể, thực tiễn để bảo đảm sự kết hợp có hiệu quả./.

TBQL 17

XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”

 


          Thế trận là một trong những nội dung cơ bản của xây dựng nền quốc phòng toàn dân, của nghệ thuật quân sự. Trong điều kiện thời bình, chúng ta có điều kiện xây dựng, bố trí thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận phòng thủ chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng chuyển hóa thế trận chiến tranh nhân dân khi có nguy cơ xảy ra chiến tranh xâm lược. Thế trận quốc phòng được xây dựng cả thế trận trong nước và thế trận ở ngoài nước, nhất là các địa bàn trọng điểm chiến lược; liên kết chặt chẽ nội địa với biên giới, đất liền với biển, đảo; biển, đảo gần bờ với xa bờ. Thế trận quốc phòng phải được tổ chức toàn diện bao gồm cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao và “thế trận lòng dân”. Liên quan đến xây dựng thế trận quốc phòng, Đại hội XIII của Đảng có những phát triển mới về nhận thức và tư duy gồm:

           Xây dựng “thế trận lòng dân” là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng Việt Nam; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và cả hệ thống chính trị.

          “Thế trận lòng dân” là nhân tố luôn được Đảng quan tâm trong xây dựng nền quốc phòng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, “thế trận lòng dân”. Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Đại hội XII của Đảng xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh vững chắc;... Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền an ninh nhân dân. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”.

          Xây dựng thế trận quốc phòng được tiến hành toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, song phải lấy xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là then chốt. Mặt khác, bên cạnh tiếp tục coi trọng việc xây dựng “thế trận lòng dân”, thì Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung yêu cầu phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Điều này cho thấy Đảng ta đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố “thế trận lòng dân” và cần phát huy mạnh mẽ nhân tố này vào thực tiễn xây dựng tiềm lực quốc phòng./.

TBQL 17

 

TƯ DUY VÀ NHẬN THỨC MỚI VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG

 

          Nền quốc phòng Việt Nam dựa vào sức mạnh toàn dân, toàn diện của lực lượng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Lực lượng toàn dân gồm các ngành, các cấp và quần chúng nhân dân; là lực lượng đông đảo nhất, nhanh nhất, kịp thời nhất và là chỗ dựa vững chắc nhất của quốc phòng. Lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

          Đại hội XIII của Đảng xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng lực lượng quốc phòng với mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ vững mạnh. Về nhiệm vụ xây dựng lực lượng quốc phòng, tại Ðại hội XII, Đảng ta mới chỉ xác định: “ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” nhưng đến Ðại hội XIII, Đảng đã chỉ rõ, phải xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại: “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”.

          Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực quốc phòng, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen đối với mọi quốc gia, dân tộc. Sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị, kỹ thuật quân sự hiện đại đã làm thay đổi cơ bản tổ chức quân đội, hình thái, phương thức tiến hành chiến tranh. Đặc biệt, sự ra đời của hình thái chiến tranh mạng, chiến tranh vũ trụ, vai trò của trí tuệ nhân tạo, phương tiện tự hành thế hệ mới... đã tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải có những lực lượng hiện đại để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trước mọi kẻ thù xâm lược.

          Ðại hội XIII của Ðảng cũng tiếp tục khẳng định, nhấn mạnh và đặt ra yêu cầu phải xây dựng Quân đội nhân dân “vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội... tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, Nhà nước và nhân dân”. Đồng thời, bổ sung nhiệm vụ mới: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự”; “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”.

          Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng lực lượng quốc phòng, cần tập trung xây dựng lực lượng toàn dân, Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ, trong đó:

          Với xây dựng lực lượng toàn dân, phải tập trung củng cố vững chắc hệ thống chính trị, bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là hạt nhân của lực lượng quốc phòng, có vai trò quyết định trong huy động, phát huy sức mạnh quốc phòng của đất nước. Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng các lực lượng chuyên trách, lực lượng kiêm nhiệm và lực lượng rộng rãi trong các ngành, các cấp, các lĩnh vực, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và điều kiện của từng vùng, miền, địa phương trên cả nước.

          Với xây dựng Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ, cần tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, tổ chức tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt, hiệu quả; cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý, phù hợp với quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; đồng thời, sẵn sàng phát triển lực lượng đáp ứng yêu cầu của chiến tranh. Theo đó, bộ đội chủ lực phải được tổ chức tinh nhuệ, có khí tài hiện đại và hỏa lực mạnh; trang bị, phương tiện cơ động nhanh, có thể đảm nhiệm tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Bộ đội địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của từng địa phương, trên từng địa bàn lãnh thổ, vùng, miền, biên giới, ven biển, hải đảo; được trang bị vũ khí phù hợp, phát huy hiệu quả trong khu vực phòng thủ. Lực lượng dự bị động viên phải được xây dựng hùng hậu, rộng khắp, đủ số lượng, chất lượng cao, phục vụ phát triển Quân đội khi cần thiết. Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng vững mạnh, rộng khắp, chất lượng cao, phù hợp với các địa phương, các thành phần kinh tế, các cơ sở sản xuất - kinh doanh, đơn vị hành chính sự nghiệp./.

TBQL 17

TƯ DUY VÀ NHẬN THỨC MỚI VỀ XÂY DỰNG TIỀM LỰC QUỐC PHÒNG

 

          Xây dựng tiềm lực quốc phòng là chủ trương, chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, nhằm huy động kịp thời mọi nguồn lực về nhân lực, vật lực, tài chính, tinh thần ở trong nước và ngoài nước nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc cả ở thời bình và thời chiến. Việc xây dựng tiềm lực quốc phòng đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ tiềm lực chính trị, tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội; tiềm lực khoa học - công nghệ và tiềm lực quân sự trong một thể thống nhất với nhiều giải pháp sáng tạo, đồng bộ để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Liên quan đến xây dựng tiềm lực quốc phòng, Đại hội XIII của Đảng có những phát triển mới về nhận thức và tư duy:

          Thứ nhấtcoi trọng và nhấn mạnh việc xây dựng “thế trận lòng dân” trong xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần. Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, thành tố cơ bản, quan trọng nhất của tiềm lực quốc phòng được đặt ở vị trí trung tâm trong mối quan hệ hữu cơ, chi phối hiệu quả đối với các tiềm lực khác. Trong xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, nội dung trọng tâm là xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, tạo sự đồng thuận, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

          Để xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, đòi hỏi phải kế thừa những giá trị đã đạt được trong thời gian qua, đồng thời có sự vận dụng, phát triển phù hợp trong điều kiện mới. Đó là phát huy các giá trị về lòng yêu nước, ý chí, niềm tin, truyền thống lịch sử, văn hóa,... trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh, phức tạp, khó lường, điều kiện thế và lực của đất nước được tăng cường; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; các thế lực thù địch thường xuyên chống phá...

          Thứ haixác định và mở rộng nguồn lực xây dựng tiềm lực kinh tế thuộc tiềm lực quốc phòngXây dựng tiềm lực kinh tế thuộc tiềm lực quốc phòng bao gồm xây dựng các khả năng nguồn lực của nền kinh tế có thể huy động cho thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, đặc biệt là trong xử lý các tình huống quốc phòng, quân sự ngay từ thời bình hoặc tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra). Nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế thuộc tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đại hội XII của Đảng xác định: cần tăng cường nguồn lực cho quốc phòng, an ninh. Đại hội XIII của Đảng cụ thể hóa, bổ sung và phát triển nguồn lực, đó là: Có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh... Đây là thể hiện tư duy mới của Đảng, tạo ra cơ chế mở để phát huy cao nhất các “nguồn lực xã hội” nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp, bảo đảm tốt nhất cho xây dựng tiềm lực quốc phòng vững mạnh trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng./.

TBQL 17