Đảng - Nhà nước - Nhân dân là ba thành tố có quan hệ biện
chứng, thống nhất với nhau; trong đó, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo; Nhà
nước đại diện cao nhất của quốc thể thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại;
Nhân dân làm chủ trong thực hiện đường lối lãnh đạo, bầu cử lập ra hệ thống tổ
chức bộ máy nhà nước và thụ hưởng thành quả lãnh đạo. Cần phải củng cố,
tăng cường, củng cố mối quan hệ này xuất phát từ những khía cạnh sau:
Thứ nhất, xuất
phát từ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta
chưa thật sự chú trọng đến mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố Đảng - Nhà
nước và Nhân dân. Từ khi đổi mới đến nay, nhận thức về mối quan hệ này ngày
càng được củng cố và hoàn thiện hơn. Với nhận thức về vị trí, vai trò của mối
quan hệ này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vững và ngày càng phát huy là nhân
tố định hướng sự tồn tại và phát triển của ba thành tố: Đảng, Nhà nước và Nhân
dân. Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân
và vì Nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, tổ chức
và hoạt động theo một nguyên tắc mới về chất so với trước đây “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, bản chất của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được pháp luật quy định. Đây là căn
cứ pháp lý quan trọng để xác định mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo - Nhà nước
quản lý và Nhân dân là chủ.
Thứ hai, xuất
phát từ những hạn chế, bất cập trong quá trình hiện thực hóa mối quan hệ giữa
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý. Nhân dân làm chủ thời gian qua. Mặc
dù mối quan hệ này ngày càng được hoàn thiện, củng cố cả về lý luận và thực
tiễn nhưng vẫn có tình trạng nhấn mạnh một chiều vai trò lãnh đạo của Đảng, đề
cao tính tất yếu coi Nhân dân làm chủ như là hệ quả, là kết quả đương nhiên của
sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị,
nhưng vai trò“đồng thời là bộ phận của hệ thống chính trị ấy”chưa thấy rõ, dẫn
đến một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước chưa thực sự trở
thành “công bộc” của Nhân dân, mà có nơi, có lúc dường như trở
thành“ông chủ”của Nhân dân; tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng ở một số
nơi còn rất hình thức. Quyền lực chính trị của Đảng rất lớn nhưng cả trong Điều
lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước không quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của
tổ chức đảng và cá nhân đứng đầu tổ chức đảng nên dường như trong một số trường
hợp chưa thực sự kiểm soát được quyền lực của người đứng đầu cấp ủy các cấp
trên thực tế. Vì thế, không ít cá nhân giữ trọng trách của Đảng và Nhà nước ở
các cấp có điều kiện thao túng quyền lực, độc đoán, chuyên quyền, hoặc buông
lỏng vai trò lãnh đạo.
Thứ ba, trong
thời gian qua, một trong những
vấn đề bị các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc, chống phá là mô hình và
cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, Nhân dân làm chủ. Để thực hiện các mưu đồ chống phá, các phần tử cơ hội
chính trị còn ráo riết đưa người ứng cử tự do vào Quốc hội và hội đồng Nhân dân
các cấp. Khi các vòng hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc chủ trì loại chúng ra
khỏi danh sách ứng cử (vì không đủ tiêu chuẩn và không được tín nhiệm), thì
chúng yêu cầu “phải xóa bỏ cơ chế hiệp thương”. Chúng đòi hỏi phải xây dựng “xã
hội dân sự”, để các tổ chức quần chúng hoạt động độc lập, như là lực lượng đối
trọng, đối lập với đảng cầm quyền, để kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước,
để xây dựng cơ sở xã hội cho các đảng đối lập ở Việt Nam.
Tóm lại: Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục củng
cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm
chủ ở Việt Nam trong thời gian tới./.
TBQL 17
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét