Trong
quá trình lãnh đạo, việc phát huy dân chủ luôn được Đảng ta xác định vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, và trong đó: “Quyền không bao giờ
có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do
chế độ kinh tế đó quyết định”. Thực tế cho thấy, chế độ một Đảng hay nhiều Đảng
không phải là tiêu chí duy nhất để đánh giá một chế độ xã hội dân chủ hay không
dân chủ; không phải cứ đa Đảng là dân chủ, còn một Đảng thì không dân chủ. Việc
rập khuôn một mô hình thể chế chính trị, thể chế đảng nào đó mà không tính đến
những vấn đề nói trên thì rất dễ gây mất ổn định chính trị. Do đó, phải tùy
theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội; trình độ dân trí, trình độ học vấn,
trình độ văn hóa dân chủ và văn hóa chính trị của công dân ra sao và đặc thù
của đất nước, dân tộc; nguyện vọng của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân lao
động… mà lựa chọn một mô hình thể chế Đảng cho phù hợp. Theo Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ
hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử - cụ thể khác nhau; điều quan
trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no,
hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó
là tiêu chí quan trọng nhất”./.
Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022
MỤC TIÊU LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Là
một Đảng chân chính, tiến bộ, bên cạnh những thành tựu đạt được Đảng ta cũng
luôn dũng cảm thừa nhận sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa những sai
lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Thời gian qua, mặc dù công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua bên cạnh những kết quả đạt được khả
quan, vẫn còn không ít hạn chế, bất cập làm giảm sút lòng tin của nhân dân với
Đảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng...
Trước tình trạng đó, Đảng ta đã quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và những
biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến’, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ. Việc ban hành nhiều nghị quyết chuyên về công tác xây
dựng Đảng, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm, kể cả đối với cán bộ lãnh
đạo cao cấp của Đảng, của Nhà nước... đã cho thấy Đảng ta rất quyết liệt trong
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong việc thực hiện nghiêm minh luật pháp của Nhà
nước và nhất là trong việc củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự
lãnh đạo của Đảng. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: “Cần khẳng
định, ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại,
nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”... Cùng với đó,
việc dũng cảm thừa nhận sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa những sai
lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo cách mạng mà Đảng ta đã và đang tiến
hành đã làm cho niềm tin vào sự
lãnh đạo của Đảng trong nhân dân đã và đang từng bước được nâng lên,
đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm
của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch
rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết
điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng
tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”./.
TBQL
17
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ TẤT YẾU, PHÙ HỢP VỚI LỊCH SƯ VÀ THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Từ
thực tiễn lịch sử cho thấy: vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
Nhà nước và xã hội đã được thể chế hóa về mặt pháp lý. Để tồn tại, các Đảng
chính trị đương đại cần có sự công nhận của hiến pháp, pháp luật để đảm bảo
tính hợp hiến của tổ chức và trong hoạt động của mình. Đảng chính trị nào cũng
phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật... Những yếu tố này đã nói lên vai trò của
Đảng chính trị trong đời sống xã hội, đồng thời nó cũng chỉ ra “khuôn giới”
hoạt động của đảng đó. Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền,
lãnh đạo Nhà nước và xã hội hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Điều này được thể chế hóa trong Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam (năm 2013): “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai
cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”./.
KHẲNG ĐỊNH SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Lịch
sử đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay đã cho
thấy: Không có một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào ngoài Đảng Cộng
sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước, dẫn
dắt Nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thành công mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hơn 90 năm qua, trong quá trình lãnh đạo
Nhà nước và xã hội, ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc;
ngoài mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam không
có mục đích nào khác. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều là kết
quả phản ánh khái quát nhu cầu, lợi ích chính đáng của Nhân dân. Nhà nước là
công cụ để thể chế hóa và thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động,
đồng thời thông qua Nhà nước mà nhân dân lao động được tổ chức lại để có sức
mạnh nhằm thực hiện vai trò là chủ thể đích thực của xã hội, đối tượng mà quyền
lực chính trị hướng tới trong Nhà nước ta là sự áp đặt ý chí của nhân dân vì
mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân là
những tổ chức “đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân
dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng
xã hội lành mạnh”; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nói tóm lại,
những tổ chức trong hệ thống chính trị là những công cụ để thực hiện quyền lực
chính trị của nhân dân lao động. Và như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lãnh
đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn với tất cả các lĩnh
vực đời sống xã hội, đồng thời chịu trách nhiệm về đời sống vật
chất, tinh thần của toàn dân, về vận mệnh của đất nước và của dân
tộc./.
Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022
Danh dự làm nên phẩm hạnh con người
Là cán bộ, đảng viên, người
lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng. Bác Hồ vẫn thường xuyên
nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo đức, nhân cách. Người
căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh, đạo đức phải vuông vắn,
ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa những thói xấu “lười biếng,
gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng, không có việc gì phải giấu Đảng”,
“không tham địa vị. Không tham tiền tài”... Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự
của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải biết giữ “thanh danh của Đảng” và
“danh giá của mình”.
Trong nhiều bài viết và nhiều
lần phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về
tư cách, đạo đức cách mạng, về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên.
Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy
mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ
liêm sỉ và danh dự của người đảng viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả
gan lấy. Không sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ
rước họa làm “thân bại danh liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống
chi, kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn
mà làm thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không
có tài đức mà dám cầm trọng trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở
cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ.
Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã
vứt bỏ mất danh dự, liêm sỉ, tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”,
Tổng Bí thư nhấn mạnh chỉ tính
riêng trong năm 2021, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra 390 vụ án và hơn
1.000 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ. Nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên
quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị,
Ban Bí thư quản lý đã bị xử lý kỷ luật (tăng 15 trường hợp so với năm 2020).
Nhìn vào số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật liên quan đến tham nhũng,
tiêu cực khiến nhiều người không khỏi lo lắng. Các chuyên gia cho rằng, kết quả
chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua mới chỉ là “phần nổi của tảng băng
trôi”. Trong nhiều vụ việc, kết quả xử lý những "mảng chìm tiêu cực"
mới chỉ được một phần rất nhỏ.
Những con số nêu ra trên đây
là những trường hợp đã bị phát hiện, xử lý, nhưng trên thực tế, vẫn còn một phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của
người cộng sản. Họ đã không kiên tâm, bền chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn
danh dự hai tiếng “đảng viên”; không vượt qua được cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh
hoa”. Cũng bởi thế, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, trong nhiều bài viết,
bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh đến lời
dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên là phải kiên quyết đấu
tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân làm cho không ít cán bộ nảy
sinh căn bệnh tham ô, tư túi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích tập thể,
trên cả lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Những bài học đau đớn, xót xa
từ rất nhiều cán bộ, đảng viên chỉ vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh
mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta
tự mình soi chiếu, tự mình suy ngẫm và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng
viên cần phải luôn khắc cốt ghi tâm rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự
là mất đi giá trị làm người. Hơn thế, giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một
người đảng viên không chỉ là giữ gìn cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ
danh thơm, tiếng tốt của Đảng một cách bền vững nhất NTM./. (Sưu tầm)
Một số giải pháp phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay
Một là, tiếp tục quán triệt
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy
mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng
thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm
chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc
xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng
tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi
trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống
tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết
trong giai đoạn mới.
Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh
đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán
bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc
biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống
chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng
với nhân dân.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ
chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường
vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính
trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động
nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.
Bốn là, nâng cao ý thức cảnh
giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia
rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các
giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng
của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén,
sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực
thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn
thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.
Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý
luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật
về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn
phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới
về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học
bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới. Mỗi cơ quan, tổ chức
trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và người dân hãy nêu cao vai trò
trách nhiệm của mình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa NTM./.
“Đoàn kết” bài học thịnh suy, thành bại từ lịch sử
Đối với dân tộc Việt Nam, đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu và
giá trị văn hóa cốt lõi; là sức mạnh vô địch trong suốt mấy ngàn năm dựng nước
và giữ nước, chiến thắng thiên tai, địch họa, định bờ cõi, xưng nền văn hiến,
nêu cao độc lập, tự chủ. Đây là sức mạnh nội sinh có tính chủ đạo xuyên suốt, bền
vững của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định
chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành
công”. Đó là chân lý về sức mạnh vô địch của đoàn kết và phát triển truyền thống
đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Theo Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, đoàn kết là cội nguồn sức mạnh để
chiến thắng kẻ thù xâm lược và gốc của đoàn kết là chăm lo, gìn giữ sức dân:
“Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại,
khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".
Sức mạnh của nhân dân khi kết thành một khối là sức mạnh vô địch. Đó là
chân lý được Nguyễn Trãi khẳng định: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng
là dân, sức dân như nước”. Tư tưởng này là nền tảng quan trọng hội tụ đại đoàn
kết toàn dân của Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan ách đô hộ tàn bạo 20 năm của
giặc Minh. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: “Nhân dân bốn
cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước
sông chén rượu ngọt ngào”.
Trước đó, đối mặt với giặc Minh xâm lược, nhà Hồ xây thành cao, hào sâu
nhưng không xây được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân nên thất bại
là tất yếu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng nói: “Thần không sợ đánh giặc,
chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.
Thời kỳ Pháp thuộc, triều đình nhà Nguyễn chia rẽ, không quy tụ được sức
mạnh đoàn kết dân tộc; nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra song
thường mang tính đơn lẻ, thiếu ngọn cờ tập hợp lực lượng toàn dân nên đều thất
bại. Đất nước ta lại chìm trong đêm trường nô lệ trăm năm thuộc Pháp.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
nhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và phát huy sức
mạnh đoàn kết vô địch của toàn dân. Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc. Bài học lớn chính là mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống
nhất với mục tiêu, lợi ích của dân tộc, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Sự đoàn kết
trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của Đảng, trong điều kiện tình hình thế giới,
khu vực, trong nước có cả thuận lợi, khó khăn thách thức, hơn lúc nào hết bài học
về đại đoàn kết cần tiếp tục phát huy để tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây xựng thành công chủ nghĩa xã hội
NTM./.