Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

CHỦ TRƯƠNG ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


          Hoạt động đối ngoại quốc phòng hiện nay được triển khai mạnh mẽ và hội nhập ngày càng sâu rộng (Việt Nam thiết lập quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia và tổ chức quốc tế; đặt Văn phòng tùy viên quốc phòng tại Liên hợp quốc và 37 nước; có 49 nước đặt Văn phòng tùy viên quốc phòng, quân sự tại Việt Nam), mở rộng trên nhiều lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo.

          Hợp tác quốc phòng đa phương là phương thức chủ yếu để tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, thông qua các diễn đàn an ninh khu vực và thế giới, nâng cao vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 nhấn mạnh, đối ngoại quốc phòng đa phương cần tập trung: “Chủ động, tích cực cùng với các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh; triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị - An ninh đến năm 2025; tham gia xây dựng và triển khai các quy tắc, luật lệ của ASEAN; đề xuất sáng kiến nhằm duy trì hòa bình, ổn định khu vực; tham gia và đóng góp định hình các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà Việt Nam là thành viên, trước hết là các cơ chế do ASEAN giữ vai trò trung tâm, như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, hợp tác quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh”; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học quốc tế về quốc phòng - an ninh khu vực.

          Đối ngoại quốc phòng song phương là phương thức chủ đạo nhằm đưa quan hệ quốc phòng đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định và bền vững, góp phần tạo sự đồng thuận trong quan hệ quốc phòng đa phương. Do đó, thời gian tới, công tác đối ngoại quốc phòng song phương cần ưu tiên thúc đẩy quan hệ đối ngoại quốc phòng với các nước láng giềng, nhất là các nước có chung đường biên giới, thông qua các hình thức như: giao lưu hữu nghị biên giới, tăng cường hợp tác tuần tra chung, trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, di cư, nhập cư bất hợp pháp. Mặt khác, hợp tác quốc phòng song phương cần được mở rộng theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, triển khai hợp tác trên cơ sở các thỏa thuận đã được ký kết. Nghiên cứu xây dựng đề án quan hệ quốc phòng lâu dài với các đối tác quan trọng, chú trọng hợp tác về nghiên cứu chiến lược, hiện đại hóa quân đội nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đất nước và đối phó với các thách thức an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống./.

TBQL 17

NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG CHÂM, BÁM SÁT ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG

 


          Quốc phòng là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Vì vậy, công tác đối ngoại quốc phòng phải luôn giữ vững nguyên tắc trong đối ngoại, đó là giữ vững chủ quyền, môi trường hòa bình, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và các quy tắc ứng xử của khu vực trong giải quyết các vấn đề về lãnh thổ, biên giới.

          Trong tình hình mới, đối ngoại quốc phòng phải thực hiện theo phương châm tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Tích cực, chủ động thể hiện ở tinh thần tích cực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; là khả năng nghiên cứu, dự báo chính xác, khả năng lập kế hoạch có tính khả thi cao, năng lực thực hiện kế hoạch trên mọi lĩnh vực của hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Chắc chắn là giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh đạt được các mục tiêu đề ra. Tính chắc chắn thể hiện trong việc thận trọng xem xét toàn diện mọi khía cạnh, tránh chủ quan, nóng vội, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ. Linh hoạt là quán triệt tư tưởng “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Linh hoạt trong đối ngoại quốc phòng còn thể hiện ở sự vận dụng sáng tạo các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế”, Nghị quyết 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo” vào quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Hiệu quả là thước đo chất lượng công tác đối ngoại quốc phòng, là việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, xác định đúng nhu cầu thực tế, mục tiêu đề ra, lộ trình phù hợp với khả năng, năng lực hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng của từng đơn vị trong từng thời gian nhất định. Hiện nay, khi các nước đều đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu sẽ có thể nảy sinh bất đồng bởi sự khác biệt về lợi ích trong quan hệ quốc tế. Để giữ vững lợi ích quốc gia - dân tộc, đối ngoại quốc phòng phải nắm vững và tuân thủ đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhất là chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế), mà trọng yếu là không tham gia liên minh quân sự chính là biểu hiện rõ nét nhất đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng trong bối cảnh mới./.

TBQL 17

CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA HIỆN NAY

 


          “Diễn biến hòa bình” (DBHB) là một chiến lược phản cách mạng do các thế lực thù địch tiến hành nhằm thủ tiêu chế độ XHCN và chống phá các nước phát triển theo hướng tiến bộ bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” nội bộ. Nhận thức đúng đắn về nội dung, thủ đoạn thực hiện chiến lược DBHB của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn đó, là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng.

          Lúc đầu, chiến lược DBHB do các thế lực thù địch đề xuất và tổ chức thực hiện nhằm ngăn chặn, chống phá các nước XHCN. Đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, chiến lược đó được mở rộng ra đối với các nước độc lập dân tộc phát triển theo hướng tiến bộ. Qua hơn nửa thế kỷ tồn tại, chiến lược DBHB đã trải qua 3 giai đoạn chủ yếu:

          Giai đoạn hình thành, khảo nghiệm chiến lược DBHB để ngăn chặn CNXH (từ cuối những năm 50 đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX): các thế lực thù địch tập trung ngăn chặn CNXH và chủ nghĩa cộng sản bằng biện pháp quân sự là chủ yếu; DBHB ngày càng được chú ý phát triển thành một chiến lược chống cộng hoàn chỉnh. Giai đoạn thực hiện chiến lược DBHB để xóa bỏ CNXH (từ giữa những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX): các thế lực thù địch có sự chuyển hướng trọng điểm từ kiềm chế, răn đe bằng quân sự là chủ yếu sang thực hiện DBHB để thủ tiêu hệ thống XHCN; DBHB trở thành bộ phận quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Giai đoạn đẩy mạnh thực hiện chiến lược DBHBtiến hành “cách mạng màu” để xóa bỏ hoàn toàn CNXH, chống phá độc lập dân tộc của các nước phát triển theo hướng tiến bộ (từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay): trên cơ sở điều chỉnh chiến lược toàn cầu, các thế lực thù địch chuyển hướng sang tiến hành “chiến lược can dự”, tăng cường can thiệp vào các nước bằng các biện pháp cứng rắn, sẵn sàng “đánh đòn phủ đầu”, “giành quyền tiến công trước”; đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện DBHB, tiến hành “cách mạng màu” nhằm thủ tiêu hoàn toàn CNXH; khống chế các quốc gia, dân tộc ở những khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng trên thế giới.

          Việt Nam là một nước kiên trì đi theo con đường XHCN, có vị trí quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, nên các thế lực thù địch tập trung chống phá hết sức quyết liệt. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, chiến lược DBHB của các thế lực thù địch đã được triển khai thực hiện ở nước ta với nội dung toàn diện, bằng nhiều thủ đoạn thâm độc./.

TBQL 17

KIÊN QUYẾT, CHỦ ĐỘNG VẠCH TRẦN MỌI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Ngay từ khi chủ nghĩa Mác mới ra đời, giai cấp vô sản và những người cộng sản đã tổ chức đấu tranh làm thất bại những đòn tiến công hiểm độc của chủ nghĩa cơ hội và các trào lưu tư tưởng tư sản phản động. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ nội dung, hình thức, lực lượng phương tiện, thủ đoạn chống phá của chúng đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là không giống nhau. Do vậy, để đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, trước hết chúng ta cần nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mà các lực lượng phản động, cơ hội chính trị sử dụng để chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đây thực chất là công tác nắm địch trong đấu tranh cách mạng, để “biết địch, biết ta trăm trận trăm thắng”. Việc nắm địch không dừng lại ở việc nắm âm mưu, thủ đoạn chung mà phải tiến tới nắm rõ nhân thân, sở trường, sở đoản của những kẻ có tư tưởng thù địch, cơ hội chính trị; mục đích cụ thể, mục đích lâu dài, cơ sở tư tưởng, nguồn gốc phát sinh, phát triển của những luận điệu chống phá mà họ sử dụng.  Hơn nữa, những nội dung này cần sớm phổ biến kịp thời tới các lực lượng tham gia đấu tranh và lưu trữ trong kho dữ liệu dưới những hình thức phù hợp, vừa mang tính bảo mật cao, vừa dễ dàng truy cập, phổ biến khi cần thiết./.

TBQL 17

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC LỰC LƯỢNG, PHƯƠNG TIỆN TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG TRONG TUYÊN TRUYỀN, ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI

 

Để đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, các bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương cần sử dụng và phát huy hiệu quả các cơ quan chức năng trong nắm, đánh giá, dự báo tình hình; tham mưu kịp thời với cấp ủy đảng, chính quyền các nội dung biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; cung cấp thông tin, kịp thời định hướng tư tưởng, nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm diễn ra trong đời sống xã hội. Sử dụng và phát huy hiệu quả các cơ quan báo chí, truyền thông, các thiết chế văn hóa ở cơ sở; bám sát các sự kiện chính trị của đất nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để xác định nội dung, biện pháp tuyên truyền, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta; nêu cao ý thức cảnh giác, chủ động phát hiện và đấu tranh kịp thời với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch./.  

          

TBQL 17

XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, CÓ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CAO

 

Đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Muốn vậy, phải không ngừng củng cố tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng, là biện pháp “tự đề kháng” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù. Xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, thực sự là hạt nhân chính trị ở cơ quan, đơn vị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ năng lực, uy tín và trình độ để giáo dục, thuyết phục và định hướng cho quần chúng trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, tiếp tục thực hiện có hiệu quả sinh hoạt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm, khắc phục thái độ thờ ơ, bàng quan, mất cảnh giác trước các quan điểm sai trái. Phấn đấu mỗi tổ chức đảng, mỗi chi bộ là một pháo đài vững chắc trên trận địa đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước./.

TBQL 17

PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ DUY VÀ NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN


            Thế trận là một trong những nội dung cơ bản của xây dựng nền quốc phòng toàn dân, của nghệ thuật quân sự. Trong điều kiện thời bình, chúng ta có điều kiện xây dựng, bố trí thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận phòng thủ chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng chuyển hóa thế trận chiến tranh nhân dân khi có nguy cơ xảy ra chiến tranh xâm lược. Thế trận quốc phòng được xây dựng cả thế trận trong nước và thế trận ở ngoài nước, nhất là các địa bàn trọng điểm chiến lược; liên kết chặt chẽ nội địa với biên giới, đất liền với biển, đảo; biển, đảo gần bờ với xa bờ. Thế trận quốc phòng phải được tổ chức toàn diện bao gồm cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao và “thế trận lòng dân”. Liên quan đến xây dựng thế trận quốc phòng, Đại hội XIII của Đảng có những phát triển mới về nhận thức và tư duy gồm:

          Một là, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Xây dựng “thế trận lòng dân” là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng Việt Nam; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và cả hệ thống chính trị.

          “Thế trận lòng dân” là nhân tố luôn được Đảng quan tâm trong xây dựng nền quốc phòng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, “thế trận lòng dân”. Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Đại hội XII của Đảng xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh vững chắc... Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền an ninh nhân dân. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”.

          Xây dựng thế trận quốc phòng được tiến hành toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, song phải lấy xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là then chốt. Mặt khác, bên cạnh tiếp tục coi trọng việc xây dựng “thế trận lòng dân”, thì Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung yêu cầu phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Điều này cho thấy Đảng ta đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố “thế trận lòng dân” và cần phát huy mạnh mẽ nhân tố này vào thực tiễn xây dựng tiềm lực quốc phòng.

          Hai là, tư duy mới trong kết hợp mối quan hệ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nghị quyết Đại hội XII xác định: Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã có sự phát triển tư duy mới về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Trong đó, nội dung “đối ngoại” không còn tách riêng mà được đặt cùng với “kinh tế, văn hóa, xã hội”. Việc kết hợp này thể hiện tư duy, yêu cầu đòi hỏi hiện nay để phù hợp với vị thế của Việt Nam cũng như xu thế hợp tác quốc tế. Đại hội XIII của Đảng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn, không chỉ “kết hợp chặt chẽ” như Đại hội XII của Đảng đặt ra mà còn phải “kết hợp hiệu quả”. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”. Điều này thể hiện tư duy, tầm nhìn vừa chiến lược, toàn diện, vừa cụ thể, thực tiễn để bảo đảm sự kết hợp có hiệu quả./.

TBQL 17