Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

Cuộc chiến giữ niềm tin

 


Đảng đã nhận định: “Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ có mặt bị giảm sút”. “Niềm tin” có lẽ là một trong những từ khóa chính trị được nhắc đến nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay. Niềm tin của nhân dân với Đảng, niềm tin vào vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước; niềm tin của cán bộ, đảng viên vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; vào Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh... đang bị thử thách rất gay gắt. Vì thế, Đảng, Nhà nước ta đang ra sức xây dựng, củng cố lòng tin trong nhân dân bằng hành động cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động lại đang ra sức chống phá quyết liệt, tìm mọi cách kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước. Trong “cuộc chiến không tiếng súng” để giành và giữ niềm tin ấy, xuất hiện nhân tố thứ ba, nhân tố “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” trong Đảng. Phòng, chống được nhân tố “nội xâm” này, Đảng ta, nhân dân ta sẽ giành chiến thắng vẻ vang trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. NTM./.

Đấu tranh trên mạng xã hội

 


 Trong bối cảnh internet mang lại nhiều tác động tích cực, song cũng tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng xấu đến văn hóa truyền thống, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, các cơ quan chức năng cần tăng cường quản lý, định hướng đối với sự phát triển của mạng xã hội. Do đó, tăng cường đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ.

 Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin và tài liệu có nội dung xấu, độc trên mạng xã hội là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị. Hệ thống tuyên giáo Đảng là một bộ phận cấu thành trong hệ thống tổ chức của Đảng, trực tiếp góp phần thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng, cần tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng; xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Thực tiễn sôi động và phức tạp của đời sống xã hội trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác tuyên giáo. Đây là một trong những vũ khí sắc bén chống lại âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Cần quản lý mạng xã hội như một công cụ thể hiện quyền tự do của con người song tuyệt đối không để các thế lực phản động lợi dụng xuyên tạc, tiến hành các hoạt động chống phá chế độ.

Tháng 10-2015, Chính phủ đã lập 02 tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” nhằm cung cấp cho người dân những thông tin thời sự nhất về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Việc lập trang mạng xã hội vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, vừa định hướng dư luận, đồng thời giúp Nhà nước tăng cường quản lý xã hội bằng chính công cụ hữu hiệu này. “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” trở thành phương thức truyền thông hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến nhân dân, cung cấp tri thức và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Hai trang mạng này cũng góp phần định hướng hành vi của cá nhân, giám sát và quản lý xã hội, kết nối ý Đảng với lòng dân. Cũng nhờ mạng xã hội mà trong những ngày thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg về giãn cách xã hội, người dân vẫn nắm bắt nhanh chóng, đầy đủ các thông tin về tình hình chính trị - xã hội, phòng chống dịch bệnh, tiến hành các hoạt động làm việc, giao lưu trực tuyến, giảng dạy online, thương mại điện tử, trao đổi thông tin liên lạc.

 “Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề cực kỳ quan trọng và hệ trọng, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ; là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng; là điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(2); công tác giáo dục lý luận chính trị, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đóng vai trò quan trọng.Để tiếp tục nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa và các quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động trên mạng xã hội, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng về những vấn đề thời sự lớn, những vấn đề mới trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những vấn đề quan trọng trong nước và quốc tế là góp phần tạo ra sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; củng cố niềm tin, cổ vũ phong trào cách mạng.

Cần có chế tài xử phạt nghiêm minh với những hành vi cố tình đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật lên mạng xã hội, hành vi xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại quan hệ quốc tế của đất nước.

Nâng cao hiệu quả đấu tranh ngăn chặn các nội dung xấu độc, quan điểm sai trái trên mạng xã hội là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cần tăng cường quản lý chặt chẽ các hoạt động trên không gian mạng, phát huy ưu thế của mạng xã hội trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN RÚT RA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG

 

            Là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đối ngoại quốc phòng vừa là thành tố của nền quốc phòng toàn dân, vừa là cầu nối gắn kết đối ngoại với quốc phòng. Về bản chất, đối ngoại quốc phòng là cách ứng xử với bên ngoài nhằm thực hiện tốt công cuộc phòng thủ đất nước từ bên trong, thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ xa và góp phần củng cố sức mạnh quốc phòng. Mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là góp phần ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, giảm thiểu các thách thức an ninh phi truyền thống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy mở rộng quan hệ quốc phòng, an ninh với các quốc gia, các định chế, các tổ chức quốc tế; đưa quan hệ đã được xác lập đi vào thực chất, chiều sâu, hiệu quả; gia tăng mức độ đan xen, gắn kết lợi ích chiến lược; nâng cao vị thế quốc tế của đất nước và lực lượng vũ trang, khai thác có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để tăng cường thế và lực của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại; tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế và quá trình hội nhập trên các lĩnh vực khác của đất nước; giữ vững môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.

          Đối ngoại quốc phòng với đặc trưng cơ bản là vừa hợp tác, vừa đấu tranh, xây dựng lòng tin giữa các quốc gia, lực lượng vũ trang trong khu vực và trên thế giới; “kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, thực hiện kế sách tối ưu là bảo vệ Tổ quốc mà không phải tiến hành chiến tranh”. Cùng với xác định các mục tiêu, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng chỉ rõ phương châm, nguyên tắc hoạt động của đối ngoại quốc phòng khi tiến hành thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là: “Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược”; “Giữ trong ấm ngoài êm, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”; “Kiên quyết, kiên trì, vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn, bớt thù; giữ cân bằng chiến lược...”.

          Đại hội XIII của Đảng dự báo về môi trường chiến lược của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”. Sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đứng trước nhiều vận hội mới nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thử thách đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đúng đắn và hiệu quả; tạo dựng thế và lực vững mạnh; thực hiện kế sách giữ nước đúng đắn, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, không để bị động, bất ngờ, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột. Phải thực hiện bằng được: “Kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”./.

TBQL 17

NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU CẦN TẬP TRUNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG TOÀN DÂN, QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VÀ DÂN QUÂN TỰ VỆ

 

            Với xây dựng lực lượng toàn dân, phải tập trung củng cố vững chắc hệ thống chính trị, bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là hạt nhân của lực lượng quốc phòng, có vai trò quyết định trong huy động, phát huy sức mạnh quốc phòng của đất nước. Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng các lực lượng chuyên trách, lực lượng kiêm nhiệm và lực lượng rộng rãi trong các ngành, các cấp, các lĩnh vực, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và điều kiện của từng vùng, miền, địa phương trên cả nước.

          Với xây dựng Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ, cần tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, tổ chức tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt, hiệu quả; cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý, phù hợp với quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; đồng thời, sẵn sàng phát triển lực lượng đáp ứng yêu cầu của chiến tranh. Theo đó, bộ đội chủ lực phải được tổ chức tinh nhuệ, có khí tài hiện đại và hỏa lực mạnh; trang bị, phương tiện cơ động nhanh, có thể đảm nhiệm tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Bộ đội địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của từng địa phương, trên từng địa bàn lãnh thổ, vùng, miền, biên giới, ven biển, hải đảo; được trang bị vũ khí phù hợp, phát huy hiệu quả trong khu vực phòng thủ. Lực lượng dự bị động viên phải được xây dựng hùng hậu, rộng khắp, đủ số lượng, chất lượng cao, phục vụ phát triển Quân đội khi cần thiết. Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng vững mạnh, rộng khắp, chất lượng cao, phù hợp với các địa phương, các thành phần kinh tế, các cơ sở sản xuất - kinh doanh, đơn vị hành chính sự nghiệp./.

TBQL 17

NHỮNG PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ DUY VÀ NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG

 

            Nền quốc phòng Việt Nam dựa vào sức mạnh toàn dân, toàn diện của lực lượng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Lực lượng toàn dân gồm các ngành, các cấp và quần chúng nhân dân; là lực lượng đông đảo nhất, nhanh nhất, kịp thời nhất và là chỗ dựa vững chắc nhất của quốc phòng. Lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

          Đại hội XIII của Đảng xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng lực lượng quốc phòng với mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ vững mạnh. Về nhiệm vụ xây dựng lực lượng quốc phòng, tại Ðại hội XII, Đảng ta mới chỉ xác định: “ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” nhưng đến Ðại hội XIII, Đảng đã chỉ rõ, phải xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại: “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”.

          Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực quốc phòng, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen đối với mọi quốc gia, dân tộc. Sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị, kỹ thuật quân sự hiện đại đã làm thay đổi cơ bản tổ chức quân đội, hình thái, phương thức tiến hành chiến tranh. Đặc biệt, sự ra đời của hình thái chiến tranh mạng, chiến tranh vũ trụ, vai trò của trí tuệ nhân tạo, phương tiện tự hành thế hệ mới... đã tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải có những lực lượng hiện đại để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trước mọi kẻ thù xâm lược.

          Ðại hội XIII của Ðảng cũng tiếp tục khẳng định, nhấn mạnh và đặt ra yêu cầu phải xây dựng Quân đội nhân dân “vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội... tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, Nhà nước và nhân dân”. Đồng thời, bổ sung nhiệm vụ mới: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự”; “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”.

TBQL 17

DỰ BÁO ĐÚNG, TRÚNG, KỊP THỜI, CHÍNH XÁC TÌNH HÌNH THẾ GIỚI, KHU VỰC, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG

 

          Tình hình thế giới, khu vực luôn thay đổi đã tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Nước ta là một bộ phận của thế giới. Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta”. Do vậy, dự báo kịp thời, chính xác về tình hình thế giới, khu vực có ý nghĩa hết sức quan trọng để mọi hoạt động đối ngoại của Đảng, trong đó có đối ngoại quốc phòng luôn giành thể chủ động, không rơi vào thế bị động, bất ngờ.

          Đặc trưng của đối ngoại quốc phòng không chỉ là công tác ngoại giao đơn thuần của Bộ Quốc phòng, mà còn bao gồm các hoạt động đối ngoại trong lĩnh vực quốc phòng giữa nước ta và các nước, các tổ chức quốc tế, liên quan trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc và an ninh, hòa bình ở khu vực, thế giới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát công tác đối ngoại quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc rằng “không chỉ là ngoại giao đơn thuần mà thông qua hoạt động đối ngoại để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Vì vậy, công tác đối ngoại quốc phòng phải luôn bám sát tình hình thế giới, khu vực, qua đó chỉ ra được xu hướng phát triển của cục diện chính trị, an ninh thế giới và khu vực, dự báo được các tình huống có thế xảy ra làm phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc một cách kịp thời, qua đó góp phần tham mưu cho Đảng và Nhà nước các đối sách ứng phó với từng chủ thể trong quan hệ quốc tế một cách đúng đắn. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng, cả về phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật, trình độ ngoại ngữ... Mặt khác, thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để kịp thời điều chỉnh, bổ sung dự báo chính xác, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng sự gia tăng đan xen lợi ích giữa các nước, cần phải có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng đặc biệt của đối ngoại quốc phòng, bởi đối ngoại quốc phòng góp phần ngăn chặn các nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

TBQL 17

CHỦ TRƯƠNG ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


          Hoạt động đối ngoại quốc phòng hiện nay được triển khai mạnh mẽ và hội nhập ngày càng sâu rộng (Việt Nam thiết lập quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia và tổ chức quốc tế; đặt Văn phòng tùy viên quốc phòng tại Liên hợp quốc và 37 nước; có 49 nước đặt Văn phòng tùy viên quốc phòng, quân sự tại Việt Nam), mở rộng trên nhiều lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo.

          Hợp tác quốc phòng đa phương là phương thức chủ yếu để tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, thông qua các diễn đàn an ninh khu vực và thế giới, nâng cao vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 nhấn mạnh, đối ngoại quốc phòng đa phương cần tập trung: “Chủ động, tích cực cùng với các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh; triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị - An ninh đến năm 2025; tham gia xây dựng và triển khai các quy tắc, luật lệ của ASEAN; đề xuất sáng kiến nhằm duy trì hòa bình, ổn định khu vực; tham gia và đóng góp định hình các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà Việt Nam là thành viên, trước hết là các cơ chế do ASEAN giữ vai trò trung tâm, như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, hợp tác quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh”; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học quốc tế về quốc phòng - an ninh khu vực.

          Đối ngoại quốc phòng song phương là phương thức chủ đạo nhằm đưa quan hệ quốc phòng đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định và bền vững, góp phần tạo sự đồng thuận trong quan hệ quốc phòng đa phương. Do đó, thời gian tới, công tác đối ngoại quốc phòng song phương cần ưu tiên thúc đẩy quan hệ đối ngoại quốc phòng với các nước láng giềng, nhất là các nước có chung đường biên giới, thông qua các hình thức như: giao lưu hữu nghị biên giới, tăng cường hợp tác tuần tra chung, trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, di cư, nhập cư bất hợp pháp. Mặt khác, hợp tác quốc phòng song phương cần được mở rộng theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, triển khai hợp tác trên cơ sở các thỏa thuận đã được ký kết. Nghiên cứu xây dựng đề án quan hệ quốc phòng lâu dài với các đối tác quan trọng, chú trọng hợp tác về nghiên cứu chiến lược, hiện đại hóa quân đội nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đất nước và đối phó với các thách thức an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống./.

TBQL 17