Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG KHÔNG GIAN MẠNG CHỐNG PHÁ ĐƯỜNG LỐI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA

 

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang tăng cường tán phát các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do vậy, đẩy mạnh công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng xã hội vừa là vấn đề có tính cấp thiết, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài của cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên.

          Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khằng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”. Nền tảng tư tưởng của Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường, phương pháp tiến hành cách mạng nhằm giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và là cơ sở vững chắc để Đảng đề ra chủ trương, đường lối lãnh đạo, là kim chỉ nam định hướng cho mọi hành động của Đảng.

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được cấu thành bởi hai thành tố có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Không gian mạng đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, do có tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, do vậy không gian mạng mang đến không ít thách thức đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Không gian mạng đã và đang trở thành công cụ lợi hại hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, chuyển hóa chính trị, khủng bố. Đây thực sự là một mặt trận quạn trọng, không thể xem nhẹ, buông lỏng. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, cấp thiết, đòi hỏi mọi người, lực lượng thực hiện nhiệm vụ này phải luôn nhận thức đầy đủ những thuận lợi, khó khăn, thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh chính trị, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp hiện nay./.

TBQL 17

ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

  


          Tận dụng sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động tăng cường phát tán quan điểm sai trái, nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, vạch trần ý đồ của chúng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài.

          Từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng. Tại Đại hội VII (1991), Đảng đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 và nhiều văn kiện qua các kỳ đại hội Đảng đều khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã minh chứng: nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có vị trí, vai trò quyết định đến mọi thành công của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ đất nước, nhất là trong 35 năm đổi mới chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại. Nhưng đây cũng là mục tiêu chủ yếu mà các thế lực thù địch tập trung chống phá, nhằm làm cho Đảng ta mất phương hướng lãnh đạo, dẫn đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

          Sau nhiều thập kỷ chống phá không thành công, các thế lực thù địch đã thay đổi phương thức hoạt động, tận dụng triệt để sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội để chia sẻ, phát tán luận điệu sai về khoa học, phản động về chính trị, tạo nên sự nhiễu loạn thông tin, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, như: tạo dựng, xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo của Đảng, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam lấy “chủ nghĩa Mác - Lênin” làm nền tảng tư tưởng là “bảo thủ”, đi theo vết xe đổ của Liên Xô; “Chủ nghĩa xã hội mà C. Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”rồi “khuyên” Đảng ta nên đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”,... để gây mơ hồ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tăng cường xuyên tạc nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, cho rằng “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị, trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ”, Đảng Cộng sản đang độc diễn”, “không có bầu cử dân chủ khi còn thể thức Đảng cử dân bầu”, “Đảng chỉ đạo cơ cấu tỷ lệ đại biểu trước khi bầu, nên sẽ không có một Quốc hội đại diện cho nhân dân”, v.v. Vì vậy, nhận diện đúng quan điểm sai trái, thù địch, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, xác định giải pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Nhận thức rõ trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó Quân đội là một trong những lực lượng nòng cốt, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng đã quán triệt, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Cán bộ, chiến sĩ trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước các luận điệu phản động. Lực lượng nòng cốt được tổ chức chặt chẽ, bài bản, phương pháp đấu tranh linh hoạt, sáng tạo; nhiều tác phẩm báo chí được độc giả đánh giá cao; nhiều trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội có số lượng tương tác, chia sẻ, lan tỏa lớn, tạo hiệu ứng tích cực trên mạng xã hội. Các đơn vị kỹ thuật triệt phá nhiều trang, nhóm, tài khoản giả mạo, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

TBQL 17

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ ĐƯỜNG LỐI CƠ BẢN, XUYÊN SUỐT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

          Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

          Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là điều mà chúng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...

          Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

          Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện./.

TBQL 17

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ

 

          Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Theo đó, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có khát vọng cống hiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng; thực sự mẫu mực, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; “thực sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”, được nhân dân tín nhiệm. Tiếp tục thực hiện tốt các quy định về công tác cán bộ, nhất là Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” một cách thực chất và hiệu quả; không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

          Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ được ngăn chặn từ sớm nếu kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh. Có thể ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nếu kết hợp một cách chặt chẽ giữa giáo dục với rèn luyện và giữa giáo dục, rèn luyện với xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên chỉ đạt hiệu quả cao khi kết hợp với việc giữ gìn kỷ luật của Đảng, xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm. Vì vậy, cần chú trọng công tác kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, trong việc chấp hành các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; và xử lý nghiêm nếu có sai phạm, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”. Đồng thời, quan tâm giải quyết dứt điểm những vụ việc phức tạp, gây bức xúc kéo dài trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy vai trò giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, kịp thời phát hiện từ nội bộ những vi phạm từ khi mới phát sinh để chấn chỉnh ngay; không để những khuyết điểm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm lớn, đến mức phải thi hành kỷ luật đảng, thậm chí phải xử lý hình sự.

          Đảng trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn nỗ lực vì lợi ích của nhân dân, của đất nước thì sẽ vượt qua mọi khó khăn, trở ngại. Muốn vậy, Đảng phải thực sự phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

          Đấu tranh có hiệu quả trong phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là sự gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong và đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài. Đây là quá trình được tiến hành đồng thời, hỗ trợ lẫn nhau theo phương châm “xây” là cơ bản, phải kiên trì; “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. “Xây” tốt là nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị. “Chống” có hiệu quả là nâng cao khả năng ứng phó, ngăn chặn các thông tin sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng; kịp thời định hướng dư luận, vô hiệu hóa hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc ngày càng tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Các cơ quan thông tin đại chúng phải kịp thời cung cấp những thông tin chính thống, có trách nhiệm, nhằm đi trước một bước trong định hướng dư luận xã hội, để giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ./.

TBQL 17

TÍCH CỰC PHÁT HUY GIÁ TRỊ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH VÀ CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ TRONG SÁNG


          Để đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cần lưu ý một số vấn đề sau:

          Một là, cần nhận thức mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách khách quan, khoa học để không rơi vào tư duy siêu hình. Một mặt, không rơi vào “chủ nghĩa quốc tế hư vô” mà quên đi một thực tế và cũng là quy luật rằng, giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo các đảng cộng sản cần phải gánh vác trách nhiệm giải phóng quốc gia - dân tộc của mình và xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên đất nước mình. Mặt khác, không rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mà quên đi nghĩa vụ quốc tế.

          Hai là, cần phân biệt rõ chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa quốc tế vô sản nếu được kết hợp với chủ nghĩa dân tộc chân chính sẽ tạo ra sức mạnh thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi nước trên thế giới.

          Ba là, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi đặt lợi ích dân tộc lên trên hết nhưng lại tách rời Đảng Cộng sản Việt Nam với dân tộc, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, có những quan điểm cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; không có chủ nghĩa xã hội vẫn có độc lập dân tộc. Đây là quan điểm hết sức sai lầm, phản động và tác động tiêu cực đến việc thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

          Bốn là, cần đấu tranh phản bác một số luận điểm xuyên tạc, sai trái rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì coi trọng hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia, dân tộc trong việc giải quyết một số vấn đề về biên giới lãnh thổ. “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc” dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta khi mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới./.

TBQL 17

SỰ KẾT HỢP HÀI HÒA MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

 

          Điều này được thể hiện rõ nhất qua đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đó là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

          Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã làm rõ mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội XIII đề ra phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đây là phương châm phù hợp với đường lối đối ngoại mà Việt Nam đã đề ra; đồng thời khẳng định giá trị của đối ngoại Việt Nam là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hội nhập quốc tế, sẵn sàng tham gia đóng góp cho cộng đồng quốc tế cũng như giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.

          Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế của Việt Nam cũng được thể hiện qua tư duy về lợi ích quốc gia - dân tộc. Kim chỉ nam cho tư duy và hành động của Việt Nam là trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời hài hòa với lợi ích của các đối tác, lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Việc “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” không phải là xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, càng không phải bỏ qua trách nhiệm quốc tế.

          Cần xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của nhân loại đều là đưa nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ chính là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”.

          Trong môi trường quốc tế với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cường quyền, Đảng ta đã khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà thúc đẩy lợi ích trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc này bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Đó là những nguyên tắc phổ quát và tiến bộ mà toàn thể nhân loại đang nỗ lực gìn giữ và thực hiện.

          Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối đối ngoại nhất quán và những đóng góp chủ động, tích cực của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đã chứng minh tính đúng đắn của sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Tiến trình hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam trở thành một bộ phận gắn kết với thế giới. Thực tiễn những đóng góp của Việt Nam đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đất nước đạt được vị thế chưa từng có trên trường quốc tế. Từ chỗ bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị - ngoại giao, đến nay, cục diện đối ngoại Việt Nam được mở rộng với quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới của 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) với khoảng 60 đối tác. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 nước thuộc Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G-20) và toàn bộ các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)./.

TBQL 17

GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN TỘC VÀ QUỐC TẾ THEO QUA ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


          Chúng ta luôn khảng định trong thời đại Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng chính là bài học thành công của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử.

          Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng quốc tế. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện ở sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”. Qua đó, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác./.

TBQL 17