Mùa Thu năm 1945, Tổng khởi
nghĩa thành công, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, trên Lễ đài Quảng
trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với toàn
thế giới bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà
nước của dân, do dân và vì dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới,
chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành người làm chủ chân chính vận
mệnh dân tộc mình.
Tuyên ngôn độc lập là một áng văn bất hủ, tiếp nối
truyền thống bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại
cáo của Nguyễn Trãi. Mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền độc lập,
tự do của dân tộc ta bằng chính lời lẽ của tổ tiên người Mỹ, người Pháp: “Tất
cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không
ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Viện dẫn của Người vừa khéo léo, vừa kiên
quyết, thể hiện sự nối tiếp văn hóa nhân loại và quyền bình đẳng, tự do, độc
lập giữa các dân tộc. Trên cơ sở đó, Người khẳng định: “Một dân tộc đã
gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về
phía Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc
đó phải được độc lập!”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thật sự
đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả
tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập
ấy”. Và, “Toàn thể nhân dân Việt Nam thà chết không chịu làm nô
lệ!”,
Lời thề đánh thép của vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam vừa
dứt, cả biển
người trước Quảng trường Ba Đìn đồng thanh hô vang: “Xin
thề!”.
Lời thề trong ngày Tết độc lập, cúng chính là lời
thề giữ nước của dân tộc Việt Nam! Lời thề thiêng liêng và tinh thần bất diệt
từ mùa Thu Tháng Tám năm 1945, kết tinh trong Tuyên ngôn độc lập vang vọng khắp
non sông, bay cao, bay xa trên trường quốc tế, tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để
mọi người dân Việt Nam tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử, quyết tâm giữ vững
và bảo vệ nền tự do, độc lập vừa giành được.
Quyết tâm ấy được Đảng và nhân dân ta bảo vệ vững
chắc chính quyền cách mạng còn non trẻ đứng trước tình thế “Ngàn cân
treo sợi tóc”. Kết quả ấy buộc chúng ta phải tìm mọi cách nhân nhượng, hòa
hiếu và phải đánh đổi biết bao nước mắt, mau xương của nhân dân. Song, chúng ta
càng nhân nhượng, thì kẻ thù càng lần tới, vì, chúng muốn cướp nước ta một lần
nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch
Hồ Chí Minh lại vang lên giữa mùa đông giá rét, hiệu triệu cả dân tộc nhất tề
đứng lên thực hiện lời thế giữ nước.
Thực hiện Lời thề giữ nước, tối mùa đông năm 1946,
nhà máy điện Yên Phụ cắt điện làm hiệu lệnh, những khẩu pháo của quân dân Hà
Nội tại Pháo đài Láng đã gầm vang, báo hiệu cuộc kháng chiến mới của dân tộc
bắt đầu. Lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chúng ta thà hy sinh
tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” một
lần nữa làm bùng cháy ngọn lửa yêu nước trong trái tim toàn thể dân tộc Việt
Nam. Cả nước “không phân biệt già, trẻ, gái trai, tôn giáo…” dưới
ngọn cờ của Đảng cầm gươm, cầm súng đứng lên để giữ gìn những giá trị thiêng
liêng, giữ gìn phẩm giá của công dân một đất nước độc lập, tự do. Tổ quốc những
ngày tháng bi hùng ấy, các phố phường, làng mạc đều trở thành chiến lũy ngăn
bước quân thù, làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của
giặc Pháp, đưa Chính phủ kháng chiến trở về “Thủ đô gió ngàn” để rồi 9 năm sau
Lời thề giữ nước của dân tộc Việt Nam được chứng minh bằng chiến thắng Điện
Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Cả nước mừng vui, Thủ đô Hà Nội rực rỡ cờ hoa đón
những người con thân yêu năm 1946 ra đi “Đầu không ngoảnh lại” với
Lời thề sắt son, sẽ trở về giải phóng Thủ đô. Niềm vui ấy như vỡ òa khi Chính
phủ kháng chiến trở về, đưa miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng
rồi, miền vui ấy chưa được bao lâu, cả nước tiếp tục bước vào cuộc trường chính
thử lửa mới, đánh đuổi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước.
Hơn hai mươi năm là thời gian ròng rã cả nước chung
lòng đấu cật chia lửa cùng miền Nam “vì miền Nam ruột thịt, miền Bắc nhiều
đêm không ngủ”, giành lại sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc thiêng liêng.
Trong rừng sâu, giữa biển cả, dưới mưa bom bão đạn, cả nước hướng về thủ đô yêu
dấu, nơi ấy có Trung ương Đảng, có Bác Hồ, nơi từng vang lên Lời thề giữ vững
nền độc lập từ mùa Thu cách mạng. Vì mục tiêu, lý tưởng thiêng liêng ấy, hàng
triệu người con ưu tú của dân tộc, trước khi ngã xuống trước bom đạn quân thù,
vẫn thiết tha mong muốn “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Chiến thắng 30-4-1975 là
chiến thắng của khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất trên nền tảng tư
tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, là chiến thắng của
sự gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đã mở
ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước
đi lên CNXH.
Bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng đất nước và hội
nhập sâu và nền kinh tế thế giới. Đứng trước xu thế toàn cầu hóa, đa dạng hóa,
đa phương hóa và hội nhập quốc tế bên cạnh thuận lợi để phát triển đất nước, Việt
Nam cũng không tránh khỏi ảnh hưởng không nhỏ của chiến tranh cục bộ, xung đột
vũ trang, các thế lực thì địch “điên cuồng”, chống phá sự nghiệp cách mạng nước
ta... âm hưởng hào hùng của Tuyên ngôn độc lập: “Toàn thể dân Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững
quyền tự do và độc lập ấy” vẫn tiếp lửa và thôi thúc dân tộc Việt
Nam vươn mình trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa
chọn.
Lời thề độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần 80 năm
trước trong Tuyên ngôn độc lập và tâm nguyện trong Di chúc thiêng liêng của
Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta
đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập,
dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế
giới” mãi mãi là ngọn đuốc soi đường để Việt Nam thực hiện thắng lợi
khát vọng hùng cường, đến năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét