Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

THƯỜNG XUYÊN NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ, CỦNG CỐ VÀ GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ.

 

          Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng.

          Hơn nữa, vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của Quân đội ta. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

          Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị.

          Nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Đồng thời, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị và giải quyết kịp thời đúng đắn, dứt điểm những diễn biến chính trị, tư tưởng phức tạp, những vấn đề mới nảy sinh, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch./.

TBQL 17

Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

CHỐNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 


          Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

          Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa.

          Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội.

Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

          Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./.

TBQL 17

BẢO ĐẢM THỰC THI QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

 

          Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam được ví như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới. Điều đó đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo.

          Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta.

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”.

          Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

          Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

          Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân.

          Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao./.

TBQL 17

THƯỜNG XUYÊN CẢNH GIÁC, ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN INTERNET

 

          Do sự phát triển của các phương tiện kết nối internet, nên khó có thể cấm đoán công dân khai thác thông tin trong một xã hội thông tin hiện đại. Vấn đề là, chúng ta phải có những giải pháp tối ưu nhằm giảm thiểu sự truy nhập, tìm kiếm thông tin sai trái và tác động của nó đối với nhận thức của những đối tượng tiếp cận thông tin.

          Để làm tốt việc này, cần chú trọng một số nội dung cần chú ye một số nội dung cụ thể sau:

          Một là, Luôn nâng cao kiến thức về mọi mặt, nhất là đối với cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên,… để họ giữ vững bản lĩnh chính trị, có phương pháp xem xét, tiếp cận thông tin một cách đúng đắn, khoa học.

          Hai là, Nâng cao cảnh giác, đấu tranh với những nhận thức không đúng, ngộ nhận, mơ hồ trước các nguồn thông tin ngược chiều với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

          Ba là, Bản thân mỗi người có ý thức tự giác, kỷ luật trong quá trình tiếp xúc thông tin; chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin, tích cực đấu tranh chống phao tin đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu, thông tin thất thiệt.

          Bốn là, Các cơ quan hữu quan, cơ quan chuyên trách cần có sự phân loại thông tin, điều chỉnh những cách thức đấu tranh, hạn chế, bài trừ cho phù hợp.

          Năm là, Các bộ, các ngành chức năng phối hợp tổ chức tốt công tác nắm tình hình, phản ứng của các nước về đường lối chính trị, kinh tế, chính sách đối ngoại,… của Việt Nam; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch đối với nước ta, v.v. Từ đó, tham mưu cho Đảng, Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, nhất là các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận. Ngoài ra, tăng cường hợp tác văn hóa thông tin với các nước, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế nhưng cần giữ thế chủ động; đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia nhưng không làm tổn hại đến quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước./.

TBQL 17

NÂNG CAO NHÂN THỨC VÀ TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG NHẰM ĐẤU TRANH CHÔNG CAC QUAN ĐIÊM SAI TRAI, THU ĐICH TRÊN INTERNET

 

          Đây là việc làm trở nên cấp bách nhằm làm thất bại hệ thống các phương thức chống phá của các thế lực thù địch; góp phần quan trọng trong việc tạo dựng hình ảnh Việt Nam trung thực, gần gũi, thân thiện trong con mắt của bạn bè quốc tế, giúp cho cộng đồng quốc tế hiểu và tin tưởng, giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn trong môi trường quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Chính từ ý nghĩa đó, các cấp, các ngành, cơ quan có trách nhiệm phải nhận thức sâu sắc tính quyết liệt, phức tạp, lâu dài, thường xuyên trong cuộc đấu tranh này, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ giữa giữ bên trong với chủ động ngăn ngừa. Giữ bên trong là giữ vững sự ổn định chính trị, mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, chủ động ngăn ngừa mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; ngăn ngừa mọi sự yếu kém, sai lầm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp lãnh đạo, điều hành Nhà nước. Ngoài ra, trong cuộc đấu tranh toàn diện này, cần nâng cao bản chất giai cấp công nhân, khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn đúng đắn; kiên quyết loại trừ những xu hướng cơ hội, xét lại, hữu khuynh giáo điều, bảo thủ tả khuynh, cũng như mọi biểu hiện sai trái, tiêu cực và tham nhũng trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng và toàn xã hội. Đẩy mạnh phát triển, xây dựng tiềm lực kinh tế vững mạnh, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của chế độ chính trị, mở rộng hợp tác quốc tế đi đôi với tăng cường quyền tự chủ và an ninh quốc gia./.

TBQL 17

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

          Thứ nhất, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi đắp ý chí kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và trong xã hội đối với cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sự thống nhất trong nhận thức về nguy cơ “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

          Thứ hai, tiếp tục làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng nội bộ vững mạnh, củng cố vững chắc bên trong là chính, lấy “thế trận lòng dân” làm nền tảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt, học tập, tính chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên với phương châm “mỗi đảng viên” là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng. Đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và trong xã hội.

          Thứ ba, tiếp tục triển khai quyết liệt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; bồi dưỡng lòng yêu thương con người, lối sống trung thực, giản dị, cần, kiệm, liêm, chính; giữ gìn bản sắc văn hóa đất nước, giáo dục lòng yêu nước, sự tự tôn, tự hào dân tộc.

          Thứ tư, đề cao ý thức gần dân, học dân, trọng dân, có trách nhiệm với dân trong cán bộ, công chức; mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc hoạch định các chủ trương, đường lối; tăng cường tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; phòng, chống hiệu quả tệ tham nhũng, tiêu cực.

          Thứ năm, tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ. Tạo môi trường, cơ chế, chính sách để các văn nghệ sĩ sáng tác được nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật để giáo dục, cổ vũ các tầng lớp nhân dân đấu tranh bài trừ các loại văn hóa phẩm thấp kém, độc hại trên thị trường, trên sàn diễn, trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bảo đảm an ninh thông tin, nhất là trên mạng Internet…

          Thứ sáu, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động thông tin đối ngoại để giúp cộng đồng người Nghệ An nói riêng, người Việt Nam nói chung ở nước ngoài và bạn bè quốc tế có nhận thức đúng đắn về đường lối đổi mới, hội nhập; về lịch sử, văn hóa con người Việt Nam nhằm tranh thủ rộng rãi sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới với sự nghiệp xây dựng và phát triểt đất nước.

          Thứ bảy, đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật, từng bước hiện đại hóa các phương tiện phục vụ cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình”, nhất là phương tiện đảm bảo an ninh thông tin, an ninh mạng.

          Thứ tám, khắc phục tư tưởng xem nhẹ vấn đề tư tưởng, văn hóa trong việc nhận viện trợ, hợp tác, liên doanh với nước ngoài, nhất là trên lĩnh vực liên doanh, liên kết giáo dục, đào tạo./.

TBQL 17

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

“Quyết tâm xây dựng trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam”


Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định nguyên tắc nền tảng và tư tưởng chỉ đạo của đối ngoại thời kỳ Đổi mới là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Ý chí tự lực, tự cường và nội lực là quyết định, cơ bản, lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng. Mục tiêu của đối ngoại được xác định là bảo đảm nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại là xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, hội nghị này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cũng có thể gọi đây là hội nghị có ý nghĩa lịch sử, vì đây là lần đầu tiên Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo hội nghị đối ngoại toàn quốc để bàn về công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân và của cả hệ thống chính trị. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát lại những tư tưởng, triết lý vượt thời đại của cha ông ta, mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị về tư tưởng, quan điểm đối ngoại. Đặc biệt, hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, nước ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của Thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. 

Đó là mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.

Để góp phần xứng đáng cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gợi mở, nhấn mạnh 6 nội dung trọng tâm đối với công tác đối ngoại thời gian tới.
Trước hết cần tiếp tục thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc diễn biến, tình hình để kịp thời có giải pháp thích hợp trong công tác đối ngoại. Vì những diễn biến chính trị nhanh chóng, phức tạp trên thế giới thời gian qua có rất nhiều vấn đề vượt ra ngoài dự báo thông thường, nếu không nắm bắt đúng tình hình thì không thể theo kịp sự phát triển của thực tiễn. 
“Vấn đề là phải nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, có tinh thần chủ động tiến công, dám vượt ra khỏi khuôn khổ tư duy cũ, những lĩnh vực quen thuộc để có những suy nghĩ và hành động vượt tầm quốc gia, đạt tầm khu vực và quốc tế. Chúng ta cần xây dựng tâm thế và vị thế mới của Việt Nam trong ứng xử và xử lý mối quan hệ với các nước, song phương, cũng như đa phương. 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: Thế và lực của nước ta trên các tiêu chí quan trọng như kinh tế, dân số, quốc phòng và đối ngoại đã khác rất nhiều so với 35 năm về trước, đặc biệt các vấn đề thuộc lợi ích cốt lõi mang tầm chiến lược của Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải thể hiện tiếng nói mạnh mẽ hơn và lập trường đối ngoại tích cực hơn, trước hết là trong khu vực; đồng thời cũng phải đẩy mạnh đổi mới tư duy, mạnh dạn đột phá, sáng tạo trong công tác, tìm ra cách làm mới, mở rộng các lĩnh vực mới, tìm kiếm các đối tác mới, hướng đi mới; đương nhiên đổi mới phải trên cơ sở giữ vững nguyên tắc: Chắn chắn, thận trọng, kiên định mục tiêu, và chân thành, khiêm tốn. 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng yêu cầu tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng đắn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng vì lợi ích quốc gia, dân tộc; vừa hợp tác, vừa đấu tranh; vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tượng, đối tác; tăng cường hợp tác, tiếp tục tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa các nước với nước ta; ngăn ngừa xung đột, tránh đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc; trong đó mục tiêu bao trùm là giữ vững môi trường hoàn bình, ổn định thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện các nhiệm vụ chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chính đáng của đất nước phù hợp với luật pháp quốc tế. Trong việc bảo đảm môi trường hòa bình, thịnh vượng thì một trong những yêu cầu then chốt là phải luôn kiên trì, bình tĩnh, sáng suốt, khôn khéo, xử lý đúng đắn các mối quan hệ đối ngoại, trong đó có vấn đề chủ quyền, lãnh thổ. “Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị, trong đó ngành Ngoại giao là những người đi xung kích”, Tổng Bí thư nhấn mạnh. 

Cùng với đó, cần phát huy tối đa mọi yếu tố thuận lợi của đất nước để chủ động, tích cực tham gia đóng góp xây dựng định hình các cơ chế đa phương; nâng tầm công tác đối ngoại đa phương; cần mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả các hoạt động đối ngoại, nhất là hợp tác kinh tế, văn hóa, chính trị, an ninh, quốc phòng với các nước; triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa công tác người Việt Nam ở nước ngoài, theo đúng tinh thần người Việt Nam ở nước ngoài là máu thịt, là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực quan trọng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. 

Mặt khác hết sức coi trọng và nâng cao hơn nữa chất lượng công tác nghiên cứu và dự báo chiến lược, để giữ được sự chủ động trong một thế giới đầy biến động, phức tạp, có nhiều bất ngờ. Để hoàn thành hiện tốt các nhiệm vụ nêu trên, với quan điểm của Đảng ta “cán bộ là gốc của mọi công việc”, Tổng Bí thư lưu ý cần đặc biệt chú trọng công tác xây dựng tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại.
“Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc tộc, trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”, Tổng Bí thư nhắn nhủ khi kết thúc bài phát biểu.