Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2022

SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 

 

Chủ nghĩa đế quốc cho rằng sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là nguy cơ, là hiểm hoạ đối với chúng. Do vậy khi chủ nghĩa xã hội mới được hình thành trên cơ sở lí luận thì chúng đã kiên quyết chống phá chủ nghĩa xã hội, và khi CNXH được thiết lập ở Liên Xô và các nước Đông Âu thì chúng càng điên cuồng chống phá chủ nghĩa xã hội.

Nhưng sau nhiều năm chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới chúng đã rút ra bài học là không thể dùng sức mạnh quân sự đơn thuần để chiến thắng chủ nghĩa xã hội mà cần sử dụng các biện pháp tổng lực: Chống phá về kinh tế, chính trị, văn hoá, văn nghệ, quân sự, ngoại giao “diễn biến hoà bình” thì mới có thể chiến thắng chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy từ giữa thế kỷ XX, chiến lược “diễn biến hoà bình” bắt đầu hình thành.

Ban đầu “diễn biến hoà bình” chỉ được sử dụng như một biện pháp hỗ trợ cho các chiến lược “ngăn chặn” , “phản ứng linh hoạt”… của chủ nghĩa đế quốc để chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới. Gần đây, “diễn biến hoà bình” đã trở thành chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động âm mưu lật đổ chế độ chính trị – xã hội các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc đã góp phần quyết định làm sụp đổ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu.

Hiện nay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ chống phá quyết liệt các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Vì vậy chống chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước không tuân theo sự lãnh đạo của chúng từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự.

Nội dung chính của chiến lược “diễn biến hoà bình” là kẻ thù sử dụng mọi thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, đối ngoại, an ninh…, để phá hoại, làm suy yếu từ bên trong các nước xã hội chủ nghĩa.

 Kích động các mâu thuẫn trong xã hội, tạo ra các lực lượng chính trị đối lập núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, sắc tộc, khuyến khích tư nhân hoá về kinh tế và đa nguyên về chính trị, làm mơ hồ giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nhân dân lao động. Đặc biệt, chúng coi trọng khích lệ lối sống tư sản và từng bước làm phai nhạt mục tiêu, lí tưởng xã hội chủ nghĩa ở một bộ phận học sinh. Triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nên sức ép, từng bước chuyển hoá và thay đổi đường lối chính trị, chế độ xã hội theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản.

Bạo loạn lật đổ: là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng li khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền ở địa phương hay trung ương.Về hình thức của bạo loạn, gồm có bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang hoặc bạo loạn chính trị kết hợp với vũ trang. Trên thực tiễn, bạo loạn lật đổ là một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động gắn liền với chiến lược “diễn biến hoà bình” để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội.

Khi tiến hành bạo loạn lật đổ, các thế lực thù địch thường kích động những phần tử quá khích, làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội ở một số khu vực và trong một thời gian nhất định (thường chỉ diễn ra trong không gian hẹp và thời gian ngắn) tiến tới lật đổ chính quyền ở địa phương hoặc nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Quy mô bạo loạn lật đổ, có thể diễn ra ở nhiều mức độ, từ quy mô nhỏ đến lớn. Phạm vi địa bàn xảy ra bạo loạn lật đổ có thể ở nhiều nơi, nhiều vùng của đất nước, trọng điểm là những vùng trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hoá của Trung ương và địa phương, nơi nhạy cảm về chính trị hoặc ở các khu vực, địa bàn mà cơ sở chính trị của địa phương yếu kém./.

TBQL 17

MỘT VÀI ĐIỀU SUY NGẪM BỆNH CÔNG THẦN, TỰ KIÊU TỰ ĐẠI

 


Lúc sinh thời, Bác Hồ từng căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, tránh những căn bệnh ấy, rèn luyện đạo đức cách mạng, khi đương chức cũng như khi nghỉ hưu. Thế nhưng, vẫn có những người tự kiêu tự mãn, để những căn bệnh ấy không chỉ làm méo mó hình ảnh, nhân cách, vinh quang của chính họ mà còn tạo ra dư luận xấu, ảnh hưởng đến niềm tin, tình cảm của nhân dân.

Đề cập đến bệnh công thần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng. 

Thật đáng buồn, đến giờ, biểu hiện của căn bệnh ấy vẫn đang tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong đó, có cả cán bộ đã kinh qua rèn luyện, cống hiến, lập nhiều chiến công nhưng đến lúc nghỉ hưu lại thiếu tỉnh táo, nói và viết trái với đường lối quan điểm của Đảng. Rồi tiếp xúc với nhiều đối tượng cơ hội chính trị, thậm chí cả đối tượng phản động, bị chúng lợi dụng, kích động, dẫn đến phát tán nhiều thông tin xấu, việc làm sai trái, có hại cho đất nước, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vai trò của cán bộ là vô cùng quan trọng. Họ là những người có những đóng góp hết sức to lớn, đưa đất nước ta vượt qua các thời kỳ khó khăn, vất vả. Công sức của họ bỏ ra rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, hiện nay, một số cán bộ, công chức lại có tư tưởng “công thần”. Họ lấy danh nghĩa cá nhân, cậy công, cậy sức đã bỏ ra để đòi hỏi nhiều quyền lợi phi lý, một số khác thì có thái độ bất cần, không quan tâm đến kỷ cương, pháp luật.

Bệnh công thần là một trong những căn bệnh đặc biệt nguy hiểm. Thứ nhất, nó nguy hiểm bởi người mắc bệnh này là những cán bộ, lãnh đạo trong bộ máy Đảng, Nhà nước. Họ là những người có công, có đóng góp to lớn cho Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chính vì vậy, khi họ có những “đòi hỏi” thì rất khó để chúng ta có thể giải quyết. Nếu đáp ứng yêu cầu của họ thì luật pháp không được đảm bảo nghiêm minh, nếu không đáp ứng thì họ “làm loạn”, phá rối gây ra nhiều tác động tiêu cực. Thứ hai, căn bệnh này nguy hiểm bởi nó có thể kéo theo rất nhiều căn bệnh thứ phát khác. Chẳng hạn, khi họ đòi hỏi biên chế cho con em họ thì bệnh “cả họ làm quan”, “cha truyền con nối” sẽ diễn ra. Hay khi họ đòi hỏi tiền tài, nhà cửa, nếu chúng ta giải quyết thì bất bình đẳng sẽ xảy ra, từ đó tạo ra tiền lệ xấu. Và nguy hiểm hơn, đây sẽ là yếu tố khiến cho nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước bị bất ổn, mất đoàn kết, rối loạn từ bên trong.

Hiện nay, nhắc đến bệnh công thần, ta có thể kể đến một số biểu hiện chính như sau:

Thứ nhất, đó là sự coi thường pháp luật. Với tư tưởng cậy công, cậy quyền, nhiều cán bộ, lãnh đạo của ta luôn cho rằng mình là người có nhiều đóng góp to lớn cho đất nước; họ luôn nghĩ rằng đất nước “nợ” họ nên họ “kiêu ngạo” với đời, với trời, với đồng nghiệp và với nhân dân. Cũng chính bởi vậy nên không ít người nảy sinh tâm lý coi thường pháp luật, không tôn trọng pháp luật.

Ngoài ra, một biểu hiện khác của sự của sự coi thường pháp luật là việc cán bộ, công chức có thái độ “thách thức” pháp luật.

Thứ hai, đó là việc những “cựu” lãnh đạo đòi hỏi vô lý. Liên quan đến các sai phạm của cán bộ lãnh đạo sau khi nghỉ hưu, đây là một câu chuyện rất nhạy cảm nên chẳng mấy khi được đưa ra mặt báo. Vậy nhưng báo không đưa không phải là không xảy ra trên thực tế. Qua những phát ngôn của một số vị lãnh đạo hiện hành, ta có thể hình dung phần nào hiện thực của vấn đề này. Có người thì lợi dụng vị trí, vai trò của mình để đòi nhà, đòi xe. Có người lại đưa ra “yêu sách” đòi công chức cho người nhà, người thân của mình.

Những đòi hỏi vô lý trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, suy cho cùng vẫn là do chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ chỉ biết lợi cho mình. Có những người cả đời cống hiến cho Đảng, Nhà nước vậy nhưng khi về hưu lại sinh ra biến chất, bị lợi ích làm mờ mắt dẫn, thoái hóa. Đây là một vấn đề vô cùng nguy hiểm, là biểu hiện của “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chính vì vậy, trong các hoạt động đối với cựu cán bộ, một mặt ta phải gần gũi, quan tâm đến đời sống của họ nhưng mặt khác, ta phải kiên quyết đấu tranh với các đòi hỏi phi lý.

Cùng với đó, một số lãnh đạo, Đảng viên sau khi về hưu lại có “tư tưởng xét lại”. Trước những tiêu cực của xã hội, họ bức xúc. Đây cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, cách phản ứng của không ít người lại hết sức sai lầm, “phản động”. Thay vì đóng góp ý kiến để xây dựng tổ chức tốt hơn, nhiều người cậy công, cậy sức của mình đã đóng góp cho đất nước, từ đó đưa ra các “thư ngỏ, tâm thư” yêu cầu lãnh đạo phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, phải thay đổi cương lĩnh, bắt kỷ luật ông này, hạ bệ ông kia,… Đây là những vấn đề vô cùng phức tạp, gây ra vô số hệ lụy tiêu cực, khiến nội bộ mất đoàn kết.

Trong tất cả các thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, bệnh công thần đều không thể chấp nhận. Đặc biệt, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến hết sức phức tạp, những đối tượng mắc bệnh công thần rất dễ bị lợi dụng, trở thành những đối tượng chống đối từ trong chính nội bộ của Đảng ta. Vì vậy, toàn bộ hệ thống chính trị của ta phải tích cực vào cuộc, làm trong sạch bộ máy, không để bệnh công thần có điều kiện nảy nở trong cán bộ, Đảng viên./.

TBQL 17

KIÊN TRÌ MỤC TIÊU BẢO VỆ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG, KHOA HỌC CỦA ĐẢNG

 


Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”.

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn lịch sử 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá”. Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020. Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ./.

TBQL 17

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU PHỦ NHẬN CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 


Âm mưu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa là Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.      

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng.

         Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội./.

TBQL 17

“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” BÊN TRONG CÓ MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT VỚI “TÁC ĐỘNG CHUYỂN HÓA” TỪ BÊN NGOÀI

 


Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có mối quan hệ chặt chẽ với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã khẳng định: “sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(4). “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn ra nhanh hơn khi đời sống gặp nhiều khó khăn, phân cực giàu - nghèo quá lớn; tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tràn lan... dẫn đến nảy sinh những vấn đề và tâm lý bức xúc trong xã hội. Đối tượng bị rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cán bộ, đảng viên, bất kể ở cương vị nào. Chức vụ của người cán bộ, đảng viên càng cao thì hậu quả tiêu cực của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” do người đó gây ra càng lớn.

“Tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” có quan hệ chặt chẽ với nhau: “Tự diễn biến” là quá trình thẩm thấu từng ngày, qua từng hoạt động, còn “tự chuyển hóa” là kết quả, là hậu quả và hệ lụy của “tự diễn biến” của mỗi cán bộ, đảng viên. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong còn là nguyên nhân của mất đoàn kết nội bộ, là cái cớ để các thế lực thù địch khoét sâu thêm những khuyết điểm, thúc đẩy và làm gia tăng thêm mâu thuẫn nội bộ; có thể dẫn tới sự tiếp tay hoặc cấu kết của một số cá nhân với các thế lực xấu, thù địch, dẫn tới sự phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đó là hậu quả của quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị từ bên trong đội ngũ đảng viên - lực lượng tiên phong của phong trào cách mạng. Do vậy, nếu quá trình này không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, thì có thể dẫn đến sự suy thoái của Đảng và kết thúc sinh mệnh chính trị của Đảng, sự tồn tại của chế độ XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Hậu quả lớn nhất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực chất là sự chuyển hóa chính trị. Chuyển hóa chính trị có thể xuất hiện từ hai hướng: 1- Từ hoạt động của các thế lực thù địch nhằm tác động dẫn tới chuyển hóa chính trị; 2- Sự “tự chuyển hóa” chính trị của nội bộ. Tuy nhiên, hai hướng này có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau: Yếu tố bên ngoài thúc đẩy, tạo điều kiện cho yếu tố bên trong; yếu tố bên trong tạo sự chú ý và điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài. Trong đó, “tự chuyển hóa” bên trong sẽ quyết định sự thay đổi về chính trị nên hết sức nguy hiểm. Do vậy, phương châm, nguyên tắc bảo đảm an ninh nội bộ, bảo vệ chính trị nội bộ và phòng, chống chuyển hóa chính trị là phải chủ động phòng ngừa các nguy cơ, giữ vững sự đoàn kết chính trị bên trong. Đây là yếu tố mang tính căn bản, quyết định. Tác động chuyển hóa từ bên ngoài của những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ và của những thế lực thù địch sẽ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nếu kết hợp với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong; có thể làm sụp đổ chế độ chính trị nếu không có biện pháp hóa giải kịp thời, hiệu quả. Vì thế, việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống một cách có hiệu quả sẽ góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của những tác động từ bên ngoài. Điều này đúng như V.I. Lê-nin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Toàn bộ vấn đề là ở chữ “nếu” này. Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”.

Như vậy, việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở bên trong là cách tốt nhất để hạn chế những tác động từ bên ngoài, và làm vô hiệu hóa “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời, tăng cường đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh chính là cách tốt nhất, bền vững nhất để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những kết quả thiết thực về đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trong những năm qua là minh chứng rõ nét, thể hiện quyết tâm củng cố, nâng cao niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, góp phần vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một quá trình đi từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ tiêu cực đến bất mãn, phản động, nên nỗ lực, quyết tâm của tổ chức đảng, của mỗi đảng viên để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái đó. Điều này thể hiện trước hết ở nhận thức, trách nhiệm và hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình. Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, nhất là nêu cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”. V.I. Lê-nin khẳng định: “Đối với đảng đang đấu tranh của giai cấp tiền phong thì phạm sai lầm là không đáng sợ. Điều đáng sợ là: cứ giữ mãi sai lầm, cứ xấu hổ hão không chịu nhận sai lầm và sửa chữa sai lầm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có nguyên nhân từ thái độ và trách nhiệm chưa cao trong học tập lý luận của một bộ phận đảng viên; hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị, giáo dục đạo đức có lúc, có nơi còn thấp, khiến cho kết quả nhiều khi không đạt yêu cầu đề ra. Vì thế, các cấp ủy, người đứng đầu phải thực sự chú trọng đến giáo dục nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ đảng viên một cách thường xuyên, có hiệu quả, thực chất và thiết thực. Toàn Đảng phải quán triệt, thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo trong quá trình đổi mới là: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”.

Để bảo đảm tính thuyết phục trong công tác tư tưởng, cần chú trọng hơn nữa đến công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; nghiên cứu học tập có chọn lọc những kinh nghiệm trên thế giới, vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; từ đó, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bảo đảm tính khoa học, tính thuyết phục trong công tác tư tưởng sẽ tạo điều kiện vững chắc cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh có hiệu quả chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong phản ánh dư luận xã hội, tâm trạng của các tầng lớp nhân dân, để các cơ quan, các cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh.

Chỉ khi cán bộ, đảng viên tự mình nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng của việc nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, thì khi đó mới xác định được trách nhiệm thực hiện chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị, cũng như nâng cao tính tự giác, chủ động trong tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Cấp ủy các cấp cần tiếp tục chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh phải bằng những hành động cụ thể, thiết thực, thông qua sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

         Tác động từ bên ngoài sẽ được kiểm soát khi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp giữ vững niềm tin, luôn đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Để “miễn dịch” được với những tác động xấu từ bên ngoài, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Cán bộ giữ cương vị càng cao thì càng phải tiên phong, gương mẫu. Nâng cao hiệu quả thực hiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, các chuẩn mực, giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và những chuẩn mực đạo đức của con người trong thời đại mới. Mỗi đảng viên cần tự giác rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, có ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình trước Đảng và nhân dân. Kiên quyết chống các biểu hiện bè phái, cục bộ địa phương, “lợi ích nhóm”./.

TBQL 17

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG THỜI GIAN TỚI VỀ TĂNG CƯỜNG LỰC LƯỢNG, PHƯƠNG TIỆN ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 


 

Từ thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tổ chức Đảng các cấp và phản bác các quan điểm sai trái, đặt ra một số vấn đề cần rút kinh nghiệm để triển khai hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Một là; tăng cường tổ chức, định hướng hoạt động tuyên truyền, đấu tranh phản bác trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Thời gian qua, việc định hướng, chỉ đạo cơ quan báo chí tham gia đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xuyên tạc, xấu độc, sai sự thật và phản bác các quan điểm sai trái có thời điểm còn chưa có sự tập trung cao, thiếu kiên quyết trong lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, chấn chỉnh, xử lý đến nơi đến chốn. Một số cơ quan báo chí có biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích, có biểu hiện chưa chấp hành sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí. Vai trò hạt nhân lãnh đạo của cấp ủy cơ quan chủ quản báo chí, cấp ủy và ban biên tập một số cơ quan báo chí địa phương trước những biểu hiện lệch lạc của thông tin báo chí chưa được chấn chỉnh kịp thời.

Các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí chưa thật sâu sát, còn lúng túng trong chỉ đạo công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái dẫn đến hoạt động này chưa thực sự bao phủ trên các phương tiện báo chí một cách sâu rộng. Một số vấn đề nhạy cảm, bức xúc được các cơ quan báo chí phản ánh với mức độ, liều lượng quá dày, quá đậm đặc; thông tin chưa đầy đủ, chưa phản ánh đúng bản chất của vấn đề, suy diễn thiếu căn cứ, thậm chí sơ hở, gây phản cảm trong dư luận xã hội và bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, bóp méo, thổi phồng làm phức tạp thêm tình hình.

Hai là; cần xây dựng được các bộ quy chế phối hợp trong hoạt động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái giữa các lực lượng, trong đó nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Trung ương và phân công, phân nhiệm rõ ràng.

Vấn đề phối hợp thông tin và lực lượng đấu tranh phản bác, chủ động trao đổi nội dung giữa các bên mặc dù đã thực hiện nhưng chưa thường xuyên, cơ chế phối hợp chưa mang tính định kỳ tạo thành nền nếp, còn nhiều nội dung chưa được cụ thể hóa đi vào thực tiễn. Công tác định hướng các hoạt động đấu tranh phản bác, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đến với hệ thống tuyên giáo cơ sở chưa kịp thời (hiện các đơn vị cơ sở vẫn còn lúng túng, thiếu kỹ năng cần thiết trong nội dung này). Công tác phối hợp lực lượng yếu do không có chỉ đạo chung, thống nhất từ Trung ương, từ cấp tỉnh, thành phố đã bộc lộ rất nhiều hạn chế như việc không đồng bộ tạo ra sự chia rẽ trong thông tin, thậm chí đối lập trong thông tin trên không gian mạng làm hạn chế công tác tuyên truyền…

Ba là; tăng cường việc bồi dưỡng về trình độ lý luận và nhận thức đối với lực lượng nòng cốt, đấu tranh phản bác và các kỹ năng sử dụng mạng xã hội tham gia đấu tranh phản bác.

Một trong những khó khăn, hạn chế lớn nhất hiện nay là cả Trung ương và các tỉnh, thành phố còn chưa quan tâm đến việc xây dựng lực lượng nòng cốt đấu tranh trải rộng trong hệ thống cơ sở; Lực lượng nòng cốt thiếu kinh nghiệm, kỹ năng truyền thông mạng xã hội thấp, phương pháp viết tin, bài đấu tranh phản bác chưa khoa học, kịp thời. Bên cạnh đó, lực lượngtham gia chủ yếu là kiêm nhiệm nên chưa toàn tâm toàn ý cho công tác truyền thông, đấu tranh phản bác. Các đơn vị cơ sở chưa thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho lực lượng nòng cốt…

Bốn là; cấp ủy cơ sở phải thực sự mạnh dạn, năng động, sáng tạo trong hoạt động tổ chức, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.

Nhận thức của một số cấp ủy của các sở, ban, ngành, địa phương trên địa bàn cả nước chưa cao; tính chủ động, mạnh dạn chỉ đạo hệ thống trực thuộc tham gia mặt trận đấu tranh, phản bác trên không gian mạng còn hạn chế,  có nhiều nơi lãnh đạo cấp ủy vẫn cótâm lý chờ đợi hướng dẫn của Trung ương; thậm chí, coi việc đấu tranh, phản bác này là của “cấp trên”.

            Rút kinh nghiệm những hạn chế, phát huy những bài học quý trong thời gian qua, tin tưởng rằng, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trịsự chung tay, chung sức đồng lòng của nhân dân cả nước; chúng ta sẽ đạt được những kết quả cao nhất trong công tác đấu tranh phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.

TBQL 17

TĂNG CƯỜNG LỰC LƯỢNG, PHƯƠNG TIỆN ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, những năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp luôn coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân luôn kiên định và nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trên hệ thống báo chí tiếp tục được tăng cường; phát huy vai trò chủ động tham gia, hiến kế, xây dựng tổ chức các tuyến bài viết, khai thác từng vấn đề, khía cạnh phù hợp với nội dung mà các thế lực thù địch đang sử dụng để chống phá; theo hướng chuyển sự tham gia của báo chí, truyền hình các tỉnh, thành phố với tư cách “người trong cuộc”.

Đặc biệt, các cơ quan báo chí các cấp đã vào cuộc khá tốt trong việc phối hợp tuyên truyền âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, chỉ rõ vai trò chủ mưu, giật dây của tổ chức phản động Việt Tân và một số cá nhân lợi dụng sự cố môi trường, tệ lạn quan liêu tham nhũng của một số cán bộ đảng viên; kêu gọi tụ tập, xuống đường trái phép, âm mưu kích động bạo loạn, để chống phá Đảng, Nhà nước...

Cơ quan Tuyên giáo các cấp xây dựng trang mạng xã hội các blog, youtobe, zalo… để triển khai công tác nắm bắt thông tin và tuyên truyền, chia sẻ thông tin chính thống, đấu tranh trực diện một số đối tượng và vụ việc cụ thể. Bước đầu, trang thông tin đã có tác dụng rất tích cực và xây dựng được uy tín rộng rãi trong phạm vi cả nước.

Tăng cường chỉ đạo ban tuyên giáo cơ sở tổ chức lực lượng, xây dựng các trang mạng xã hội để chia sẻ, kết nối các trang đấu tranh, tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái trên mạng internet bước đầu có kết quả tích cực. Một số cấp ủy sử dụng các bài viết trên hệ thống báo chí Trung ương và địa phương để tuyên truyền trực tiếp. Một số đơn vị tiếp tục phối hợp, phát huy lực lượng các đồng chí cán bộ lão thành, hưu trí, giảng viên lý luận chính trị của cơ sở đào tạo trực thuộc hoặc đóng trên địa bàn để thực hiện các bài viết với nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng và chế độ, phản bác các quan điểm, thông tin sai trái, xuyên tạc để tuyên truyền nội bộ. Đồng thời, đăng tải trên các trang thông tin, mạng xã hội của cơ sở để tuyên truyền cho đông đảo quần chúng nhân dân. Có thể thấy rằng, công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái được triển khai mạnh mẽ, bước đầu có tác dụng tích cực; việc củng cố và tăng cường lực lượng, phương tiện đấu tranh trực diện được các cấp ủy, các cơ quan chức năng quan tâm./.

TBQL 17