Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LUÔN PHẢI KIÊN ĐỊNH CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Thứ nhất, về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức. Tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức đó vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến tổ chức rệu rã và có nguy cơ tan rã.

Trải qua hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Tổng kết công tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, tuy cách diễn đạt về các nguyên tắc xây dựng Đảng có khác nhau một vài điểm nhưng nhìn chung, Đảng ta vẫn luôn khẳng định những nguyên tắc trên cơ sở vận dụng và tuân thủ các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta phát triển nguyên tắc về nền tảng tư tưởng: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cũng tại đại hội lần này, Đảng ta bổ sung thêm nguyên tắc: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc chủ yếu nói trên trong quá trình xây dựng Đảng là một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm cho Đảng ta giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng vai trò người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

 Trên cơ sở những nguyên lý về xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân do Lênin nêu ra và thực tiễn hoạt động của Đảng ta, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua (các nhiệm kỳ XII và XIII thống nhất giữ nguyên Điều lệ) quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động như sau: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

 Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định thực hiện nghiêm 5 nguyên tắc này và đó cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Đảng ta trong thời gian qua.

 Thứ hai, quan điểm chỉ đạo là kiên định nhưng không phải là cứng nhắc, giáo điều và cũng không phải là đổi mới vô nguyên tắc.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.
Trong quá trình thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo: Kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Kiên trì, kiên định nhưng không trở thành giáo điều, cứng nhắc; đổi mới, kế thừa và phát triển nhưng trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc chứ không phải là vô nguyên tắc, dân chủ quá đà, lẫn lộn giữa đối tượng, đối tác.

Thứ ba, về thực tiễn, trong nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện các nghị quyết của Đảng thì chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục nên khi thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng rất cần phải kiên định tuân thủ các nguyên tắc. Nếu ai không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm bằng các hình thức kỷ luật của Đảng.

 Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc và đổi mới phương thức lãnh đạo, văn kiện Đại hội XIII chỉ ra những ưu điểm sau: “Công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng”. “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội”.

 Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ ưu điểm: “Đảng ta luôn vững vàng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc về xây dựng Đảng”.

Về hạn chế, khuyết điểm trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng nói chung, các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm như Văn kiện Đại hội XIII chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục”.

 Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Văn kiện Đại hội XIII nêu: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. “Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

 Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài. Đây là điều rất đáng trăn trở vì trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.091 tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên (trong đó có 23.432 cấp ủy viên).

Điều cần lưu ý là rất nhiều vi phạm xảy ra từ nhiệm kỳ trước nhưng đến nay mới bị phát hiện và xử lý. Như vậy trước đó, việc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa thật sự được coi trọng, thậm chí bị buông lỏng. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa một số cấp ủy với đảng đoàn, ban cán sự đảng có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Việc phân định trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể. Việc xây dựng, phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu về công tác xây dựng Đảng có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận cán bộ tham mưu chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới./.

                                                           TBQL 17

NHÂN QUYỀN NGÀY CÀNG ĐƯỢC BẢO ĐẢM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 


Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai từ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời: tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội khóa I ngày 6/1/1946 theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết và bỏ phiếu kín để Quốc hội trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức, thông qua Hiến pháp 1946…  Sau đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản theo tư tưởng của Người được triển khai, vận dụng sáng tạo phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam trên tinh thần: Dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước và tất cả vì lợi ích của nhân dân. Trong Nhà nước đó, các cơ quan trong tổ chức bộ máy Nhà nước và cả hệ thống chính trị đều vì nhân dân phục vụ, thực hành theo nguyên tắc “các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” và nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Những nội dung nêu trên đều được khẳng định tại Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), mà điểm nhấn chính là: Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, và chế độ “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ… con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản  lãnh đạo”. Điều này cũng đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Chúng ta xây dựng “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có” và hệ thống chính trị đó “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người” trong tác phẩm Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thực tế, việc “xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước” và “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân; tăng cường tạo đồng thuận xã hội” tiếp tục là một nội dung quan trọng được khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng. Bởi rằng, ở Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (nền dân chủ cho đại đa số nhân dân lao động, phục vụ lợi ích cho đại đa số) khác với các nền dân chủ tư sản (nền dân chủ cho thiểu số, phục vụ lợi ích cho thiểu số); trong đó, nội dung cốt lõi là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân được quy đinh trong Hiến pháp. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ, pháp luật, kỷ cương xã hội không loại trừ, mà thống nhất biện chứng, là tiền đề phát triển của nhau nhằm phát huy mọi khả năng của con người trong vai trò làm chủ, trong việc thụ hưởng giá trị của tự do, dân chủ, được sống, được hạnh phúc… trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Trong chế độ xã hội đó, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Theo đó, quyền con người, quyền công dân được thực thi khi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ (quyền bầu cử, bãi nhiệm; quyền ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước của công dân; quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân; quyền tham gia xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức; quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước…) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Có thể nói, với 36 điều trong tổng số 120 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã không chỉ khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong các bản Hiến pháp trước đó, mà còn thể chế hóa/luật hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phù hợp với thực tiễn Việt Nam, với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Thực tế cho thấy rằng, ở bất cứ quốc gia nào, thể chế chính trị nào mà đời sống vật chất, tinh thần người dân ngày càng được nâng cao và quyền con người, quyền công dân ngày càng được bảo đảm thì nơi đó là hạnh phúc. Cho nên, việc giới dân chủ hải ngoại hay nhóm những người mượn danh dân chủ, đấu tranh cho dân chủ xuyên tạc tình hình thực thi và đảm bảo nhân quyền ở Việt Nam; mượn các sự kiện “tù nhân lương tâm như Phạm Chí Dũng, Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương, Lê Dũng Vova, Bùi Tuấn Lâm…” để làm rùm beng trên các trang Việt Tân, Quyenduocbiet.com, TiengDan.com… và mạng xã hội chắc chắn đó không phải là “những người đang đấu tranh cho tương lai tốt đẹp của đất nước” như các thế lực thù địch ảo tưởng tự nhận. Thủ đoạn, một mặt, tô vẽ cho các “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước” hay trao các loại “giải thưởng nhân quyền”…; mặt khác xuyên tạc sự thật việc thực thi và bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam về bản chất là cùng chung chiêu trò thâm độc để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, chống phá Đảng và chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và đưa đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Cho nên, các luận điệu xuyên tạc sự thật mà các thế lực thù địch hay nhóm những người giả danh dân chủ, nhân quyền, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền “vinh danh những cá nhân đã hoạt động tích cực đấu tranh cho nhân quyền của người dân Việt Nam” nhằm mục đích khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam như việc trao “giải thưởng nhân quyền năm 2022” cho Nguyễn Tường Thụy… chỉ là sự cổ xúy cho những người đã “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm” nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các hoạt động đó không phải là “sự quy tụ của những người có nhiệt huyết, trách nhiệm, hoạt động vì tình yêu đất nước và thương dân” và “bị chụp mũ cho cái tên phản động”, mà đó đích thị là các hoạt động lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, nhằm gây sức ép và hạ uy tín của Việt Nam để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Cùng với đó, những luận điệu “buôn” dân chủ, “buôn” nhân quyền, cổ xúy cho những người đã, đang cam tâm chống phá Đảng và chế độ; sự tuyên truyền xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam để “tụng niệm” các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính phổ cập của quyền con người nhằm chụp mũ “Việt Nam đã vi phạm quyền cơ bản của con người”, vi phạm tự do, dân chủ… cũng chính là một trong những thủ đoạn nằm trong chiến dịch phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín của Việt Nam khi Việt Nam vừa được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, ngày 11/10/2022.

Trên thực tế Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, truyền thông, báo chí… đều vào cuộc, đều không ngừng nỗ lực để mỗi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất và “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Cho nên, cần phải nhận diện đúng và tiếp tục khẳng định rằng: Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhân quyền/quyền con người, quyền công dân đã được thực thi, được bảo đảm bằng Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Việc cần phải bác bỏ mọi luận điệu bôi đen, bịa đặt, xuyên tạc, thâm chí vu khống về tình hình thực thi nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực thù địch là quan trọng và cần thiết./.

TBQL 17

VIỆT NAM CHÚ TRỌNG THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI

 


Việt Nam nhận thức sâu sắc quyền con người là giá trị chung của các quốc gia, dân tộc và giá trị đó được cộng đồng quốc tế ghi nhận, được ghi rõ trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, vì thế tôn trọng, thực thi, bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tuy Ngày Nhân quyền thế giới bắt đầu có từ 10/12/1948, nhưng quyền con người, quyền công dân của người dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được hiến định tại Hiến pháp 1946 và tiếp tục ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, rõ ràng hơn, đầy đủ hơn tại các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và nhất là tại Hiến pháp 2013.

Việt Nam cũng đã thông qua nhiều luật quan trọng như: Bộ luật Lao động; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Luật Cư trú; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính... liên quan đến quyền con người, quyền công dân, phù hợp với các Công ước quốc tế, nhất là Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948. Gần nhất, năm 2021, Việt Nam tiếp tục thông qua và sửa đổi nhiều bộ luật quan trọng như Luật Phòng, chống ma túy sửa đổi; xem xét thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thực tế cho thấy, việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh qua các năm luôn đảm bảo nguyên tắc ưu tiên đưa vào Chương trình các dự án luật nhằm triển khai thi hành các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Cùng với đó, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản liên quan đến các lĩnh vực thương lượng tập thể, phòng chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức…

Những thành tựu Việt Nam đạt được trong xây dựng hệ thống pháp luật, triển khai thực thi quyền con người; tham gia ký các công ước quốc tế, điều ước quốc tế về quyền con người và cam kết thực hiện, coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước; hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG)... nhất là đóng góp của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền (với chu kỳ III, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc, trách nhiệm 82,6% các khuyến nghị đã chấp thuận) và việc khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV là thêm một minh chứng cho thấy không phải Việt Nam “sợ nhân quyền”, “không thực thi nhân quyền” mà là luôn chú trọng đảm bảo nhân quyền, quyền công dân cho người dân.

Hằng năm, nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước đều ký Quyết định đặc xá tha tù trước thời hạn cho những phạm nhân có quá trình cải tạo tốt. Đây không chỉ là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn thể hiện sự nghiêm minh trong xét xử người phạm tội đi liền với sự khoan hồng, nhân đạo đối với những phạm nhân đã cải tạo tốt để trở lại làm người có ích cho xã hội. Bên cạnh đó, việc xem xét đặc xá cho những trường hợp có quốc tịch nước ngoài được thực hiện công bằng, minh bạch không chỉ góp phần làm cho cộng đồng quốc tế nhận thức rõ hơn về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam mà còn thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ song phương với các nước có công dân được đặc xá.

Ở Việt Nam, quyền dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Trong đó, tự do báo chí được thể hiện, với việc cả nước có khoảng 800 cơ quan báo chí (hơn 100 báo có hoạt động báo điện tử; hơn 600 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 67 đài phát thanh, truyền hình với 182 kênh) và 18.000 nhà báo được cấp thẻ, khoảng 5.000 phóng viên; 60 nhà xuất bản và 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam… Nói quyền tự do Internet, sử dụng mạng xã hội thì Việt Nam đang đứng top đầu thế giới như We Are Social & Hootsuite đã thống kê về chỉ số tiếp cận internet: “Việt Nam có tới 150 triệu kết nối mobile; khoảng 70 triệu người dùng internet; 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook. Hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường, xã”.

Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo và được khẳng định tại các bản Hiến pháp. Việc phát triển hệ thống báo chí, truyền thông không chỉ góp phần nâng cao dân trí và mức sống văn hóa của xã hội mà còn góp phần lan tỏa những thông điệp đúng đắn, sâu sắc, toàn diện trong cộng đồng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 95% dân số có tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó các tôn giáo sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và được Nhà nước tạo điều kiện cho in ấn, phát hành kinh sách… Đặc biệt, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân...

Việt Nam cũng luôn tham gia tích cực, chủ động và trách nhiệm tại các diễn đàn đa phương quốc tế về quyền con người như: Phiên họp cấp cao và các Khóa họp thường kỳ trong năm 2022 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sỹ); đồng chủ trì thúc đẩy thông qua bằng đồng thuận Nghị quyết về “Biến đổi khí hậu và quyền lương thực” với số nước đồng bảo trợ cao tại Khoá 50 Hội đồng Nhân quyền (tháng 7/2022); tham gia các cuộc họp của Uỷ ban 3 Đại hội đồng Khoá 74 (tháng 10 -11/2022)… và triển khai xây dựng Báo cáo thực hiện Công ước Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR); Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn (CAT); Báo cáo lần thứ 9 thực hiện Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); nộp và chuẩn bị bảo vệ Báo cáo Công ước về chống phân biệt đối xử (CERD); tổ chức Hội thảo quốc tế về bảo đảm quyền các nhóm dễ tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Hội thảo quốc tế nhân dịp kỷ niệm Ngày nhân quyền quốc tế và khởi động tiến trình UPR chu kỳ IV,v.v.. Việt Nam cũng đã thiết lập cơ chế bảo hộ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo Hiến pháp và các điều ước quốc tế về hợp tác lao động thông qua cơ quan đại sứ quán, lãnh sứ quán, hội người Việt Nam ở các quốc gia sở tại; phát huy thế mạnh của cộng đồng người Việt Nam hướng về xây dựng quê hương, đất nước gắn liền với việc tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chủ trương, đường lối, về thành tựu dân chủ, nhân quyền của Việt Nam…

Thực tế, Việt Nam không chỉ ủng hộ những tư tưởng tiến bộ về quyền con người được Liên hợp quốc khẳng định trong Tuyên ngôn và các văn kiện quan trọng khác, mà còn nỗ lực xây dựng, triển khai các chính sách để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và sự quyết tâm, thực thi đó đã đạt được các kết quả nổi bật, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việc thực thi quyền con người ở Việt Nam đúng như nhận định của ông Jean - Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt khi cho rằng: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”./.

TBQL 17

HỘI CỰU CHIẾN BINH TIẾP TỤC ĐÓNG GÓP XỨNG ĐÁNG VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Hội Cựu chiến binh Việt Nam - một sự kiện lớn trong đời sống chính trị tinh thần của cựu chiến binh, cựu quân nhân và Nhân dân cả nước. Đại hội diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 78 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 33 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân và 50 năm chiến thắng lịch sử “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” với biết bao cảm xúc tự hào sâu sắc.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc Việt Nam ta đã khẳng định một chân lý: Dựng nước phải luôn luôn đi đôi với giữ nước. Chân lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của Dân tộc. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Chỉ tính từ khi Đảng ta ra đời đến nay, với quyết tâm cao và khát vọng cháy bỏng giành lại nền độc lập, tự do, thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhân dân ta đã tiến hành các cuộc kháng chiến cứu nước lâu dài, gian khổ nhưng vô cùng hào hùng, oanh liệt, giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, hết sức to lớn và vẻ vang. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong các lực lượng vũ trang, hàng triệu cán bộ, chiến sĩ đã ra quân, trở về với quê hương hoặc chuyển ngành sang công tác ở các cơ quan trên mọi lĩnh vực. Cựu chiến binh là những người đã trải qua chiến đấu, rèn luyện và trưởng thành qua khói lửa của các cuộc kháng chiến, đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày nay đang là một bộ phận rất quan trọng của xã hội.

Được thành lập vào ngày 06/12/1989, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội, đại diện cho ý chí và quyền lợi của cựu chiến binh, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Đảng lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, Hội đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, hoạt động tích cực, đúng hướng và có hiệu quả.

Phát huy những thành tựu, thành quả của công cuộc đổi mới, trong nhiệm kỳ 2017 - 2022 vừa qua, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, hoạt động tích cực, đúng hướng và hiệu quả hơn, xứng đáng với vai trò, vị trí là nòng cốt chính trị, là chỗ dựa tin cậy của Đảng, chính quyền các cấp, là cầu nối vững chắc quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Hội tiếp tục thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng cho cán bộ, hội viên kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hội đã tập hợp, đoàn kết, hướng dẫn hội viên kiên quyết đấu tranh chống các âm mưu và hành động phá hoại cùng các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động; tham gia có hiệu quả vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhân dân. Tích cực tham gia, giám sát, phản biện xã hội và phổ biến, giáo dục pháp luật. Đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền, mặt trận và các đoàn thể thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đi đầu trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Là nòng cốt tích cực trong các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Trung ương và địa phương phát động. Động viên các cựu chiến binh nêu cao ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết, giúp nhau làm kinh tế, vươn lên thoát nghèo, nâng cao đời sống. Với vị thế, uy tín và kinh nghiệm ngày càng được khẳng định, các cấp hội đã đóng góp tích cực vào việc tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc, phức tạp nảy sinh từ cơ sở; xây dựng tình làng nghĩa xóm, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội từ cơ sở.

Công tác xây dựng Hội đạt kết quả tốt, đã có những bước phát triển vững chắc, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”; đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh, khẳng định vị thế của một tổ chức chính trị - xã hội, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và niềm tin yêu của Nhân dân; tiếp tục xây dựng, bồi đắp truyền thống vẻ vang “Trung thành, Đoàn kết, Gương mẫu, Đổi mới” của Hội.

Trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhân dân đã được hàng triệu cựu chiến binh tôi luyện, thử thách, khẳng định trong chiến tranh cách mạng; truyền thống đó lại càng được phát huy mạnh mẽ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đoàn kết là một truyền thống quý báu của Dân tộc, của Đảng và Quân đội ta đã được Hội Cựu chiến binh Việt Nam kế thừa và phát huy. Lấy đường lối, chủ trương, nguyên tắc của Đảng, lợi ích của Nhân dân và chức năng, nhiệm vụ của Hội là cơ sở để đoàn kết, thống nhất trong xây dựng và hoạt động. Hội không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết gắn bó trong nội bộ, đoàn kết với Nhân dân, đoàn kết quốc tế.

Gương mẫu là phẩm chất tốt đẹp của người cựu chiến binh Việt Nam, thể hiện qua năng lực, phẩm chất, đạo đức, lối sống, trong mối quan hệ với Nhân dân, trong tổ chức, cơ quan, đơn vị mình sống và làm việc; nói đi đôi với làm là phương châm hành động của hàng triệu cựu chiến binh; nhiều cựu chiến binh là những tấm gương sáng, mẫu mực, có uy tín, được Nhân dân tin tưởng, yêu mến và làm theo.

Đổi mới với phương châm “Cựu mà không cũ, cựu mà không bảo thủ”, các cấp hội, hội viên cựu chiến binh đã quán triệt, thấm nhuần và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhất là đổi mới về tư duy, tác phong và phương pháp công tác và hoạt động thực tiễn. Nhiều tổ chức hội, hội viên đã nỗ lực nghiên cứu đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn đem lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

Những kết quả công tác và thành tích mà Hội Cựu chiến binh Việt Nam đạt được trong thời gian qua là rất đáng trân trọng, góp phần để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đảng và Nhà nước đánh giá cao hoạt động và những đóng góp của Hội Cựu chiến binh Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

TBQL 17

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG NIỀM TIN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM CHO THANH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Một là, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho thanh niên.

Việc giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc sẽ giúp cho thanh niên thấy được vinh dự, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với đất nước, với sự hy sinh của lớp lớp thế hệ đi trước cho đất nước, từ đó thẩm thấu một các tự giác niềm tin của thế hệ trẻ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tiếp tục kiên trì, coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập, nghiên cứu và vận dụng chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương và cán bộ đoàn các cấp cần làm tốt công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên thông qua các hoạt động thực tiễn cụ thể, thiết thực, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị, địa phương và trình độ nhận thức của thanh niên; tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn và nhu cầu, tâm lý của giới trẻ hiện nay; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục truyền thống với phương pháp hiện đại, giữa giáo dục, thuyết phục, nêu gương với biện pháp hành chính, giữa tôn trọng nhân cách cá nhân với đặt ra yêu cầu ngày càng cao trong rèn luyện, từng bước hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của mỗi người thanh niên.

Hai là, phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội, phát hiện, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão của thanh niên.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hoá Việt Nam”. Theo đó, công tác chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, phát triển thanh niên phải đi vào thực chất, bền vững, dựa trên “kiềng ba chân” gia đình, nhà trường và xã hội, gắn kết với nhau trong các khâu, các bước giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của gia đình: “Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”.

Ba là, chú trọng xây dựng môi trường văn hoá thật sự trong sạch, lành mạnh, dân chủ, thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc để thanh niên phát triển.

Cần chú ý xây dựng môi trường, điều kiện học tập, rèn luyện, lao động, giải trí để thanh niên phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hoà cả về thể lực, trí lực và tâm hồn. Môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, dân chủ, thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc có ý nghĩa rất quan trọng để thanh niên phát triển. Môi trường đó là những mối quan hệ xã hội, các điều kiện tự nhiên, các điều kiện bảo đảm cho quá trình sinh sống, làm việc của thanh niên… Đây là những tác nhân, điều kiện ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, phát triển của thanh niên; môi trường không thuận lợi sẽ cản trở sự phát triển của thanh niên, ngược lại, nếu môi trường thuận lợi sẽ kích thích, tạo động lực để thanh niên công tác, làm việc theo đúng năng lực, sở trường, thế mạnh, thúc đẩy họ không ngừng phấn đấu vươn lên. Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, đề cao tinh thần nêu gương của mỗi người, xây dựng môi trường dân chủ, đoàn kết, thương yêu, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động trong tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của thanh niên, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bản thân mỗi thanh niên phải luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, cầu tiến bộ; bồi dưỡng tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn. Mỗi thanh niên thường xuyên tự phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, tránh xa cạm bẫy của tệ nạn xã hội, rèn luyện  bản lĩnh vững vàng, đạo đức trong sáng, biết “tự soi”, “tự sửa” hằng ngày, để ngày càng tiến bộ; khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại khổ, ngại rèn luyện ở mỗi thanh niên; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu đựng khó khăn, gian khổ và dám chịu trách nhiệm với hành động, việc làm của mình. Góp sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, xứng đáng với kỳ vọng và niềm tin yêu của Đảng, Bác Hồ và nhân dân cả nước đối với thế hệ trẻ./.

TBQL 17

BỒI DƯỠNG CHO THANH NIÊN VIỆT NAM NIỀM TIN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 


Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước”. Theo đó, bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên là toàn bộ hoạt động giáo dục, rèn luyện của lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị, địa phương và sự tự tu dưỡng, rèn luyện của thanh niên, nhằm làm phong phú thêm tri thức, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm và rèn luyện ý chí của thanh niên để họ luôn có niềm tin xã hội chủ nghĩa vững chắc, góp phần hình thành, phát triển phẩm chất, nhân cách cho thanh niên, xứng đáng là lực lượng kế cận sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nhiều luồng văn hóa, tư tưởng, lối sống… từ bên ngoài thiếu lành mạnh xâm nhập vào nước ta, trong đó có những tư tưởng phi mác-xít, thói chuộng các giá trị phương Tây… làm lệch lạc suy nghĩ, phai nhạt lý tưởng cộng sản của thanh niên. Các phương tiện truyền thông xã hội với thông tin đa chiều, thật - giả lẫn lộn, gây nhiễu loạn truyền thông, làm cho thanh niên mất phương hướng trong việc phân biệt, ứng xử thông tin, bị tác động bởi những luồng thông tin xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, dụ dỗ, lôi kéo một số thanh niên tham gia vào các hoạt động “diễn biến hòa bình”. Đặc biệt, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tham nhũng, tiêu cực ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị các cấp, nhất là người đứng đầu, có chức vụ ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương gây bức xúc, giảm sút niềm tin của nhân dân, trong đó có thanh niên.

Bên cạnh đó, hoạt động bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho thanh niên ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa được chú trọng, chưa có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức, biện pháp; công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng giá trị, phẩm chất tốt đẹp của văn hóa, con người Việt Nam có lúc, có nơi chưa thường xuyên. Một bộ phận không nhỏ thanh niên phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, mơ hồ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thiếu động cơ phấn đấu vươn lên, ngại khó, ngại khổ, ngại rèn luyện; sống thờ ơ, bàng quan, không quan tâm đến vấn đề chính trị - xã hội của đất nước; sống thực dụng, sính ngoại, buông thả, chạy theo thị hiếu, trào lưu xã hội nhất thời, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục… Xu hướng trẻ hóa tội phạm trong thanh niên vi phạm pháp luật, như cờ bạc, nghiện hút, buôn ma tuý, cướp của, giết người… đang có xu hướng gia tăng. Theo thống kê của Bộ Công an, giai đoạn 2018 - 2020, cả nước đã ghi nhận 10.786 vụ người chưa thành niên vi phạm pháp luật, với 16.583 đối tượng có liên quan. Trong đó, nữ giới chiếm 5%, nam giới chiếm đến 95%. Riêng năm 2020, các cơ quan chức năng đã xử lý 4.262 vụ, với hơn 6.500 đối tượng phạm pháp. Thực tế đó càng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phải tăng cường bồi dưỡng đạo đức, lối sống, lý tưởng, niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay./.

TBQL 17

IỀM TIN CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 

N

Niềm tin là yếu tố không thể thiếu được đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của con người, giúp con người có thể vượt qua những khó khăn, thử thách để đạt được những ước mơ, hoài bão của mình. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Lòng tin tưởng mà thiếu nó thì người đó sẽ không làm được gì cả”; Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh”. Lịch sử xã hội ngày càng phát triển, tư duy và hoạt động thực tiễn của con người càng trở nên phong phú và sâu sắc, con người đã từng bước khám phá và nhận thức được quy luật vận động của tự nhiên và sự phát triển của xã hội. Trên cơ sở đó, niềm tin khoa học được hình thành và phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ đời sống của con người. Niềm tin khoa học trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy năng lực sáng tạo của con người, tạo lập lý tưởng sống, khát vọng và hoãi bão cao đẹp, hướng con người phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu đã đề ra.

Niềm tin xã hội chủ nghĩa được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội trong tiến trình lịch sử xã hội loài người. Đứng từ góc độ bản chất, niềm tin xã hội chủ nghĩa chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó xét đến cùng, niềm tin xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức - niềm tin - tình cảm - ý chí - hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin xã hội chủ nghĩa là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên cũng như xã hội, trên cơ sở đó “thấm nhuần chân lý các nguyên lý lý luận, sẵn sàng chứng minh, bảo vệ chân lý trong bất kỳ hoàn cảnh nào; là thái độ nhất quán giữa nhận thức chân lý và hành động theo chân lý, giữa lời nói và việc làm, dù có phải hy sinh cả tính mạng của mình cũng kiên quyết bảo vệ chân lý”.

Thanh niên Việt Nam là những người trẻ, khỏe, năng động, trí tuệ, sáng tạo, tiếp nhận và ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào học tập, rèn luyện, phục vụ công việc, có nhiều đam mê, khát vọng, có mục đích, động cơ phấn đấu vươn lên không ngừng; mong muốn được cống hiến, khẳng định mình. Thực tiễn lịch sử từ khi có Đảng ra đời đã chứng minh mục tiêu, lý tưởng, niềm tin xã hội chủ nghĩa của thanh niên.

Với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của các tầng lớp nhân dân, giương cao ngọn cờ độc lâp dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã tập hợp, đoàn kết đông đảo các tầng lớp nhân dân, trong đó có lực lượng thanh niên tham gia vào Mặt trận Dân tộc thống nhất. Theo tiếng gọi của non sông đất nước, lớp lớp các thế hệ thanh niên đã nối tiếp nhau nô nức lên đường kháng chiến, với tinh thần, khí thế hừng hực niềm tin vào ngày toàn thắng của cách mạng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Thanh niên Việt Nam đã không quản khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân. Mục tiêu, niềm tin xã hội chủ nghĩa đã trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc thanh niên hành động, dâng hiến cuộc đời và tuổi thanh xuân cho dân tộc. Niềm tin xã hội chủ nghĩa đã định hướng và thôi thúc trái tim, sự nhiệt huyết cháy bỏng của thanh niên, giúp họ vượt qua muôn vàn sóng to, gió lớn, vững bước đi qua “mưa bom, bão đạn” của kè thù.

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh, trong giai đoạn hiện nay, thanh niên Việt Nam không ngừng đổi mới sáng tạo, bắt nhịp nhanh với thời cuộc, phát huy tốt tinh thần xung kích của tuổi trẻ trên các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Sau hơn 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta “chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều này đã góp phần quan trọng vào việc củng cố, bồi đắp niềm tin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên. Những phong trào lớn của thanh niên, như: “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Thanh niên tình nguyện”… khơi dậy ý khí, khát vọng vươn lên của thanh niên; thông qua chương trình xây dựng nông thôn mới, tiếp sức mùa thi…, đặc biệt là trong phòng, chống đại dịch COVID - 19 vừa qua, đã chứng minh tinh thần, trách nhiệm và ý thức chính trị của thanh niên. Nhiều mô hình, cách làm sáng tạo của đoàn viên, thanh niên trong phòng, chống dịch, như: shipper tình nguyện, đi chợ giúp dân, triệu bữa cơm, san sẻ yêu thương - chung tay vượt qua đại dịch, triệu ly sữa và hành trình của những cuốn sách…; nhiều thanh niên trong lực lượng vũ trang không màng đến sự hiểm nguy để cứu người gặp nạn; trong nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, thanh niên luôn là lực lượng xung kích đi đầu... “Thông qua hoạt động thực tiễn, tổ chức đoàn và mặt trận tập hợp, đoàn kết thanh niên không ngừng được xây dựng, củng cố, mở rộng… Đã có hàng triệu thanh niên tiên tiến được đứng vào hàng ngũ của Đoàn và hàng vạn đoàn viên, thanh niên ưu tú được kết nạp vào Đảng; góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang và niềm tự hào về thế hệ trẻ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”./.

TBQL 17