Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2024

VIỆT TÂN ĐỪNG HÒNG BẺ CONG SỰ THẬT !

 

 Ngày 03 tháng 8 năm 2024, nhiều trang thông tin, báo điện tử như Báo Mới, Tiền Phong, An Ninh Thủ Đô, VnExpress, Thanh Niên... đưa thông tin Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho thôi chức vụ đối với 4 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã vi phạm các quy định của Đảng trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, vi phạm những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương và các quy định về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Nội dung trên các trang được truyền tải đầy đủ để mọi người tiếp cận thông tin chính xác nhất. Tuy nhiên, trên mạng xã hội, trang blog của các phần tử chống phá Nhà nước lại tìm cách bóp méo thông tin nhằm đạt được mục đích riêng.


          Cụ thể ngày 04 tháng 8, trên trang Facebook “Việt Tân” có bài viết bóp méo, xuyên tạc trắng trợn của Việt Tân đối với công cuộc xây dựng chỉnh đốn đảng và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của đảng ta; nhằm mục đích lèo lái dưu luận hiểu sai, bôi nhọ hình ảnh lãnh đạo đảng và nhà nước ta.

          Chúng ta thấy rằng sáng ngày 03/8/2024 tại thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII  căn cứ vào các quy định của Đảng, trên cơ sở định hướng giới thiệu nhân sự của Bộ Chính trị, Trung ương đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ, thảo luận dân chủ, suy tôn, thống nhất rất cao với số phiếu tuyệt đối 100%  bầu đồng chí Tô Lâm , Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII. Vào buổi chiều trung ương đã họp và thông nhất cho thôi giữ chức vụ đối với 4 Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII đã vi phạm các quy định của Đảng trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, vi phạm những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương và các quy định về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Đây là việc làm thường xuyên, không ngưng nghỉ ngay sau lễ tang của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng chỉnh đốn Đảng, chứ không phải là chiến dịch “càn quét các phe phái chống đối” như Việt Tân đã rêu rao, xuyên tạc nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

          Từ đó, mọi người hoàn toàn có thể nhận thấy được Việt Tân cố tình bóp méo sự thật, vu khống, lèo lái, xuyên tạc, chia rẽ bằng cách cung cấp sai thông tin, chèo lái dư luận đi ngược lợi ích của toàn thể nhân dân, lợi ích quốc gia dân tộc, phủ nhận vai trò tích cực của công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng. Vì vậy, độc giả cần phải tìm hiểu đầy đủ thông tin trên các trang mạng, kênh tin tức chính thống khi tiếp cận những thông tin trái chiều, để có góc nhìn toàn diện và chính xác nhất.

VANG VỌNG LỜI THỀ GIỮ NƯỚC TRONG TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP!

 


             Mùa Thu năm 1945, Tổng khởi nghĩa thành công, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, trên Lễ đài Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với toàn thế giới bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước của dân, do dân và vì dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới, chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành người làm chủ chân chính vận mệnh dân tộc mình.





Tuyên ngôn độc lập là một áng văn bất hủ, tiếp nối truyền thống bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính lời lẽ của tổ tiên người Mỹ, người Pháp: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Viện dẫn của Người vừa khéo léo, vừa kiên quyết, thể hiện sự nối tiếp văn hóa nhân loại và quyền bình đẳng, tự do, độc lập giữa các dân tộc. Trên cơ sở đó, Người khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thật sự đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Và, “Toàn thể nhân dân Việt Nam thà chết không chịu làm nô lệ!”,

Lời thề đánh thép của vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam vừa dứt, cả biển người trước Quảng trường Ba Đìn đồng thanh hô vang: “Xin thề!”.

Lời thề trong ngày Tết độc lập, cúng chính là lời thề giữ nước của dân tộc Việt Nam! Lời thề thiêng liêng và tinh thần bất diệt từ mùa Thu Tháng Tám năm 1945, kết tinh trong Tuyên ngôn độc lập vang vọng khắp non sông, bay cao, bay xa trên trường quốc tế, tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để mọi người dân Việt Nam tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử, quyết tâm giữ vững và bảo vệ nền tự do, độc lập vừa giành được.

Quyết tâm ấy được Đảng và nhân dân ta bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng còn non trẻ đứng trước tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”. Kết quả ấy buộc chúng ta phải tìm mọi cách nhân nhượng, hòa hiếu và phải đánh đổi biết bao nước mắt, mau xương của nhân dân. Song, chúng ta càng nhân nhượng, thì kẻ thù càng lần tới, vì, chúng muốn cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại vang lên giữa mùa đông giá rét, hiệu triệu cả dân tộc nhất tề đứng lên thực hiện lời thế giữ nước.

Thực hiện Lời thề giữ nước, tối mùa đông năm 1946, nhà máy điện Yên Phụ cắt điện làm hiệu lệnh, những khẩu pháo của quân dân Hà Nội tại Pháo đài Láng đã gầm vang, báo hiệu cuộc kháng chiến mới của dân tộc bắt đầu. Lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” một lần nữa làm bùng cháy ngọn lửa yêu nước trong trái tim toàn thể dân tộc Việt Nam. Cả nước “không phân biệt già, trẻ, gái trai, tôn giáo…” dưới ngọn cờ của Đảng cầm gươm, cầm súng đứng lên để giữ gìn những giá trị thiêng liêng, giữ gìn phẩm giá của công dân một đất nước độc lập, tự do. Tổ quốc những ngày tháng bi hùng ấy, các phố phường, làng mạc đều trở thành chiến lũy ngăn bước quân thù, làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của giặc Pháp, đưa Chính phủ kháng chiến trở về “Thủ đô gió ngàn” để rồi 9 năm sau Lời thề giữ nước của dân tộc Việt Nam được chứng minh bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Cả nước mừng vui, Thủ đô Hà Nội rực rỡ cờ hoa đón những người con thân yêu năm 1946 ra đi “Đầu không ngoảnh lại” với Lời thề sắt son, sẽ trở về giải phóng Thủ đô. Niềm vui ấy như vỡ òa khi Chính phủ kháng chiến trở về, đưa miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng rồi, miền vui ấy chưa được bao lâu, cả nước tiếp tục bước vào cuộc trường chính thử lửa mới, đánh đuổi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hơn hai mươi năm là thời gian ròng rã cả nước chung lòng đấu cật chia lửa cùng miền Nam “vì miền Nam ruột thịt, miền Bắc nhiều đêm không ngủ”, giành lại sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc thiêng liêng. Trong rừng sâu, giữa biển cả, dưới mưa bom bão đạn, cả nước hướng về thủ đô yêu dấu, nơi ấy có Trung ương Đảng, có Bác Hồ, nơi từng vang lên Lời thề giữ vững nền độc lập từ mùa Thu cách mạng. Vì mục tiêu, lý tưởng thiêng liêng ấy, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc, trước khi ngã xuống trước bom đạn quân thù, vẫn thiết tha mong muốn “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Chiến thắng 30-4-1975 là chiến thắng của khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất trên nền tảng tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, là chiến thắng của sự gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên CNXH.

Bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng đất nước và hội nhập sâu và nền kinh tế thế giới. Đứng trước xu thế toàn cầu hóa, đa dạng hóa, đa phương hóa và hội nhập quốc tế bên cạnh thuận lợi để phát triển đất nước, Việt Nam cũng không tránh khỏi ảnh hưởng không nhỏ của chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, các thế lực thì địch “điên cuồng”, chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta... âm hưởng hào hùng của Tuyên ngôn độc lập: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” vẫn tiếp lửa và thôi thúc dân tộc Việt Nam vươn mình trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Lời thề độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần 80 năm trước trong Tuyên ngôn độc lập và tâm nguyện trong Di chúc thiêng liêng của Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” mãi mãi là ngọn đuốc soi đường để Việt Nam thực hiện thắng lợi khát vọng hùng cường, đến năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2023

LỬA THỬ VÀNG

 


 

Xuân Quý Mão 2022 Đảng ta tròn 93 tuổi. Nhìn lại chặng đường 93 năm ấy biết bao gian nan thử sức Đảng ta là bấy nhiêu lần Đảng ta vượt qua và giành chiến thắng.

Chỉ tính riêng năm 2021, cả nước chìm trong dịch giã, cao điểm là những ngày TP. Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế của cả nước trở thành ổ dịch của cả nước. Chưa bao giờ phải huy động cả lực lượng quân đội, công an cùng sức người, sức của cả nước hỗ trợ TP. Hồ Chí Minh dập dịch. Không chỉ có thế, những ngày cuối năm thiên tai ập vào miền Trung, đã khó khăn, lại khó khăn hơn.  

 

Vượt qua, chiến thắng những gian nan, thử thách do khách quan đem lại đã khó, vượt qua và chiến thắng chính bản thân khó khăn gấp vạn lần. Nhận thức sâu sắc khó khăn đó, Đảng ta luôn quyết liệt cảnh giác chủ động ngăn ngừa, phát hiện và xử lý triệt để.

Chẳng phải, trong hai hội nghị Trung ương 4 của ba nhiệm kỳ liên tiếp (XI, XII và XIII) Đảng ta đều dành trọng tâm cho công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chỉ trong gần 3 tháng (9 đến tháng 11-2021) Đảng ban hành 3 văn bản trực tiếp liên quan đến xây dựng Đảng là những biểu hiện cụ thể tinh thần quyết liệt đó sao?

Chẳng phải, chỉ tính trong năm 2022 đã có 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị xử lý kỷ luật bằng các hình thức, đặc biệt trong đó có cả ủy viên Trung ương mới được bầu khóa XIII, là thể hiện cụ thể của tinh thần không khoan nhượng,  xử lý kỷ luật bất kỳ ai vi phạm, không có vùng cấm đó sao? 

Đặc biệt, vụ án mua bán kít xét nghiệm Covid-19 của Công ty Việt Á một lần nữa khẳng định những cảnh báo và những biện pháp được đưa ra về xây dựng, chỉnh đốn Đảng do Đảng ta đưa ra hoàn toàn chính xác. Kít xét nghiệm vốn chỉ được dùng thử Covid-19 nhưng nó đã thử cả phẩm chất đạo đức, bản lĩnh của cán bộ, đảng viên. Vụ án cho thấy tham nhũng không còn đơn lẻ mà đã có tổ chức, đường dây từ các ngành trung ương tới cơ sở và tính chất nghiêm trọng không chỉ còn là tham nhũng.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là cuộc chiến dài lâu, âm thầm nhưng gay gắt, phức tạp, khó khăn. Căn bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là căn bệnh nguy hiểm diễn ra với nhiều hình thức ở mọi lĩnh vực mà chính Đảng phải tự chữa, tự loại bỏ. Đó chính là lửa thử vàng – thử trí tuệ, bản lĩnh của Đảng nhằm giữ vững vị trí lãnh đạo, cầm quyền, xứng đáng là đạo đức, văn minh như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định./.

TBQL 17

 

BỒI DƯỠNG PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HIỆN NAY

 


Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách làm việc dân chủ đã đạt nhiều kết quả, góp phần chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ. Song, trước yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược nâng cao hơn nữa về chất lượng, vững kiến thức chuyên môn, có năng lực quản lý, điều hành, phong cách làm việc dân chủ, khoa học... Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, đưa ra được những quyết định sáng suốt, hiệu quả, phù hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), triển khai kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12-6-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng phải vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”. Có thể thấy, yêu cầu xây dựng, bồi dưỡng phong cách làm việc cho cán bộ, trong đó có phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết.

Để công tác này thực hiện có hiệu quả, trước hết, cần thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022 về luân chuyển cán bộ; Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ… Việc thực hiện nghiêm các quy định trong công tác cán bộ là cách thức để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mỗi tổ chức đảng. Đồng thời để cán bộ phải tự ý thức rèn luyện phong cách làm việc dân chủ.

Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ, bảo đảm tính chặt chẽ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho cán bộ có môi trường rèn luyện, phấn đấu, phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới công tác tác đánh giá cán bộ, bởi đây là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá không đúng về cán bộ dẫn tới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ không đúng,  có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng; triệt tiêu nhân tố tích cực, thúc đẩy chủ nghĩa cơ hội, tiêu cực, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ được đánh giá khách quan, công tâm, được lựa chọn và bố trí đúng sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực… Để đánh giá đúng cán bộ, cần đánh giá đa chiều, thông qua năng lực, phẩm chất và uy tín; dựa vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc cụ thể. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và tham khảo ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân cán bộ tự đánh giá, tập thể đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá, huy động các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia đánh giá cán bộ.

Cần có cơ chế, chính sách thu hút, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương gắn với các chế độ, chính sách như tiền lương, thu nhập, cải thiện cuộc sống, môi trường, điều kiện làm việc… cho cán bộ. Việc đổi mới, thực hiện tốt cơ chế, chính sách trên cơ sở kiểm soát tốt quyền lực, vừa đảm bảo chất lượng cán bộ, vừa phát huy dân chủ, phòng, chống được tiêu cực…

Thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cũng là cách để rèn luyện tác phong dân chủ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng đều nêu rõ vấn đề về vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” cũng đã khẳng định quan điểm đó. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trong nhiệm kỳ qua, “việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”.

Cán bộ phải sâu sát cơ sở, nắm vững thực tiễn, kịp thời giúp cơ sở giải quyết các khó khăn và vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là tác phong công tác cần phải có của mỗi cán bộ. Đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, để có phong cách lãnh đạo sâu sát, cần phải dành thời gian đi cơ sở, trực tiếp trao đổi, đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…, từ đó tránh được bệnh quan liêu, hạn chế tình trạng ra các quyết định, chủ trương thiếu tính thực tiễn, duy ý chí. Mặt khác, cần xem phong cách sâu sát cơ sở, thực tiễn là một tiêu chí, một yêu cầu cần thiết trong quy hoạch, đề bạt cán bộ giữ vị trí người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cùng với làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”. Như vậy đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao về chất lượng, góp phần thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng./.

TBQL 17

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng dân chủ, coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Trong Đảng, Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”; “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” và phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ”. Đối với Nhà nước, Người cho rằng: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”.

Người luôn coi trọng cán bộ, khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phong cách, tác phong công tác của cán bộ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc. Bởi vậy Người luôn căn dặn cán bộ “Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”. Muốn có tác phong dân chủ, “cán bộ phải đi sát sản xuất, đi sát quần chúng và phải dân chủ với dân”. Như vậy, vừa là phát huy dân chủ nhân dân, vừa rèn luyện tác phong dân chủ của người cán bộ.

Trong cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách làm việc giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc, quyết đoán, hòa mình vào quần chúng nhân dân, coi nhân dân là cội nguồn của mọi thắng lợi. Người coi dân chủ là “chìa khóa vạn năng” để khơi dậy tính sáng tạo của nhân dân, huy động và sử dụng nguồn lực nhân dân vào các lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động khác nhau, bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Người đã nhấn mạnh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”.

Bởi vậy, Người nhắc nhở cán bộ, trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác…

Phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải “nói đi đôi với làm”. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tức là để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm. Ở bất kỳ đâu, làm bất cứ việc gì, ở cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mọi người, phát huy trí tuệ của tập thể, đề cao những kinh nghiệm, sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong công việc. Người chỉ rõ: “Gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống… Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí dân chủ, cởi mở trong làm việc, cũng như trong cuộc sống; từ đó, tạo động lực, niềm tin cho mỗi người có thể tham mưu, hiến kế, đề xuất những cách thức, biện pháp nâng cao năng suất lao động, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đồng thời, đề cao phong cách làm việc dân chủ nhưng không đồng nghĩa với dân chủ quá trớn, mạnh ai người nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; làm bất kỳ việc gì phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên./.

TBQL 17

TỰ SOI CŨNG PHẢI TỰ SỬA

 


Trong thực tiễn, việc thực hiện tự soi, tự sửa không hề dễ dàng. Ở nhiều đơn vị, còn một bộ phận cán bộ, đảng viên lúc kiểm điểm thì "hùng dũng" nhận lỗi về mình; bày tỏ “quyết tâm” lúc tự soi nhưng lại coi nhẹ việc tự sửa, không đề ra kế hoạch lịch trình cụ thể…

Buổi sinh hoạt chi bộ của đơn vị nọ có cấp trên về dự. Đến phần kiểm điểm đánh giá ưu, khuyết điểm, khi được cấp trên nêu vấn đề:“Vì sao những hạn chế, khuyết điểm này tồn tại đã khá lâu nhưng đơn vị chưa có giải pháp khắc phục triệt để?”.

Có thể thấy, tình trạng nhận lỗi, nhận khuyết điểm và xin được “rút kinh nghiệm” hay “rút kinh nghiệm sâu sắc” nhưng chưa quan tâm sửa sai hoặc sửa sai nửa vời là hiện tượng khá phổ biến trong cán bộ, đảng viên. Nếu không kịp thời khắc phục, “sợi dây” rút kinh nghiệm sẽ dài mãi, về lâu dài là nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh của Đảng ta.

Tự soi và tự sửa là hai phạm trù khác nhau nhưng lại thống nhất, song hành trong một chủ thể. Đối với mỗi người cán bộ cách mạng, tự soi, tự sửa là một trong những yêu cầu bắt buộc.

Trong thực tiễn, việc thực hiện tự soi, tự sửa không hề dễ dàng. Ở nhiều đơn vị, còn một bộ phận cán bộ, đảng viên lúc kiểm điểm thì "hùng dũng" nhận lỗi về mình; bày tỏ “quyết tâm” lúc tự soi nhưng lại coi nhẹ việc tự sửa, không đề ra kế hoạch, lịch trình cụ thể, thành ra “nước đổ lá khoai”, đâu lại vào đấy.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên không thật sự trung thực khi nói về các hạn chế, khuyết điểm của mình. Biểu hiện thường thấy là quanh co đổ lỗi do “yếu tố khách quan”, do cấp dưới tham mưu, hoặc quy hết cho trách nhiệm tập thể và xin “rút kinh nghiệm sâu sắc” với cấp trên, coi như bản thân không hề liên quan gì. Những chuyện tự soi mà không tự sửa như thế sẽ làm mất niềm tin của tập thể, quần chúng.

Còn nhớ, phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kêu gọi mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ. Hiện nay, nội dung tự soi và tự sửa đã trở thành một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn thể cán bộ, đảng viên, theo đúng tinh thần Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII.

Để tự soi, tự sửa thực chất hiệu quả, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần thẳng thắn, trung thực, tu dưỡng rèn luyện, nói đi đôi với làm, dám chịu trách nhiệm và dám sửa chữa khuyết điểm. Trong sinh hoạt, từng đảng viên gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao, tự soi bản thân hoàn thành nhiệm vụ đến mức độ nào, còn hạn chế khó khăn gì để tự sửa.

Quá trình tự soi, tự sửa rất cần sự giúp sức của tập thể, đồng chí, đồng nghiệp, nhất là người đứng đầu. Sự giúp sức ấy phải đặt trên tinh thần tôn trọng, thương yêu, làm cho nhau cùng tiến bộ, chứ không phải bóc mẽ, hạ bệ lẫn nhau.

Trong công tác, không ai tránh khỏi được sai sót, khuyết điểm dù to hay nhỏ. Bởi vậy, như Bác Hồ đã từng dạy, việc tự soi, tự sửa của mỗi cán bộ, đảng viên phải là việc làm thường xuyên, liên tục, như soi gương, rửa mặt hằng ngày. Đó cũng là quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và giữ gìn phẩm chất, tư cách người cán bộ, đảng viên./.

TBQL 17

LUẬN CỨ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 


Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời và trực tiếp lãnh đạo đất nước 93 năm, cả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay. 93 năm - một chặng đường gần một thế kỷ và có đủ thời gian để nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự phát triển của cả một dân tộc.

Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân mất tự do, chịu cảnh lầm than, nô lệ. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng mình khỏi thân phận nô lệ nhờ thành công của cuộc cách mạng tháng Tám (năm 1945) và giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (năm 1954) và chống Mỹ (năm 1975). Những thành tựu to lớn đó đã làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc, được cả thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam trân trọng, khắc ghi.

Trong bối cảnh đất nước bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, khủng hoảng toàn diện trên tất cả các mặt, đời sống nhân dân đói nghèo, thiếu thốn, lại thêm Mỹ và phương Tây áp đặt cấm vận kinh tế trong một thời gian dài, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo cả dân tộc bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Những thành tựu đó không phải tự nhiên mà có và cũng không phải dễ dàng có được. Đó chính là kết quả của quá trình nhận thức về tính tất yếu của đổi mới đất nước, đồng thời, xuất phát từ sự thôi thúc của bản thân Đảng ta với mong muốn ngày càng mang lại sự phát triển phồn vinh cho đất nước, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Những thành tựu đó là bằng chứng thuyết phục để khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước; đồng thời cũng làm cho nhân dân ngày càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận để Đảng trở thành một lực lượng xã hội duy nhất lãnh đạo toàn xã hội. Do đó, không thể cố tình lờ đi những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam qua hơn 36 đổi mới để cáo buộc rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lãnh đạo, chỉ khiến đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển. Vì vậy, những kẻ lấy danh nghĩa là “con dân đất Việt”, lấy hình thức viết “tâm thư”, “thư ngỏ” để kêu gọi Đảng phải từ bỏ Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cố tình chống phá Đảng, chống phá chế độ ta.

Từ việc tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng trong suốt hơn 93 năm nói chung và trong thời kỳ đổi mới nói riêng, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm rất quan trọng. Đó là: “Đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Tại Đại hội XIII, khi tổng kết kết quả 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta cũng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đây là những nhận định khách quan, phản ánh đậm nét vai trò to lớn, không thể phủ nhận của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước trong suốt thời gian qua. Do đó, luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước” hoặc là do nhận thức thiển cận (số này không nhiều), hoặc là cố tình lờ đi, phủ nhận (trường hợp này là đa số) vai trò lãnh đạo to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới đất nước. Do đó, mỗi chúng ta cần phải cảnh giác trước những luận điệu đó, đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác trên tất cả mọi mặt trận.

Trong những năm tiếp theo, công cuộc đổi mới đất nước sẽ tiếp tục còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nếu mỗi chúng ta luôn hiểu và vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng thì sẽ là góp phần củng cố, gia tăng thêm sức mạnh cho Đảng, để Đảng ta tiếp tục là người lãnh đạo, dẫn dắt cả dân tộc thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

TBQL 17