Chiến lược "diễn biến hòa bình” ra đời
vào thời kỳ chiến tranh lạnh trong bối cảnh quốc tế đang biến động phức tạp. Từ
đó đến nay, chiến lược này liên tục được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản
động điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi
vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các
nước xã hội chủ nghĩa.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã
hội chủ nghĩa hình thành và không ngừng lớn mạnh, phong trào cách mạng thế giới
phát triển nhanh chóng. Trước tình hình so sánh lực lượng bất lợi, chủ nghĩa đế
quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ ráo riết tìm kiếm giải pháp chiến lược nhằm ngăn
chặn "làn sóng cộng sản” từ Đông Âu và Liên Xô. Ở giai đoạn này, với
“chiến lược ngăn chặn”, Mỹ chủ trương sử dụng thủ đoạn cứng rắn, đặc biệt là
thủ đoạn quân sự với con chủ bài là bom nguyên tử để “ngăn chặn” sự phát triển
và mở rộng của chủ nghĩa cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Tổng thống Mỹ Truman
từng nói: “Mỹ phải dùng quả đấm sắt và ngôn ngữ cứng rắn để đối phó với Liên
Xô”.
Bước vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ
XX, “diễn biến hòa bình” bước đầu trở thành chiến lược của chủ nghĩa đế quốc
với tên gọi “chiến lược hòa bình”.
Kennedy sau khi nhậm chức Tổng thống Mỹ, đã
tuyên bố: “Nước Mỹ giống như con đại bàng trên Quốc huy hình lá chắn của tổng
thống, chân phải của nó cắp cành ô liu còn chân kia cắp mũi tên, phải coi trọng
cả hai chân như nhau”. Theo đó, Kennedy một mặt tiếp tục thực hiện chính sách
cứng rắn (bao vây, cấm vận, chống đối), mặt khác vạch kế hoạch "hòa
bình" với Liên Xô (6-1961), đề xướng "liên minh vì tiến bộ”, chi 20
tỷ USD viện trợ nhằm khắc phục ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Mỹ
La-tinh, thành lập "đội hòa bình" ở châu Phi, điều chỉnh chiến lược
quân sự "trả đũa ồ ạt" của Eisenhower trước đó thành chiến lược
"phản ứng linh hoạt”, tiến hành “chiến tranh đặc biệt" ở Việt Nam.
Thời kỳ chính quyền Richard Nixon, bằng chính
sách “cây gậy và củ cà rốt”, đàm phán trên thế mạnh, Mỹ tuy vẫn coi trọng răn
đe hạt nhân, nhưng đã điều chỉnh cục diện ôm đồm, giảm bớt lực lượng quân sự ở
nước ngoài; tạo thế cân bằng giữa các nước lớn; tăng cường tiếp xúc hòa bình
với các nước xã hội chủ nghĩa, lấy hòa hoãn thay dần cho “chiến tranh lạnh”,
qua đó để thẩm thấu tư tưởng và văn hóa, tác động vào kinh tế, phá hoại quốc
phòng, an ninh, gieo rắc hạt giống chống phá từ bên trong…
Sang thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Mỹ khôi phục
kinh tế, quân sự và vị thế quốc tế, tăng cường sức mạnh trên một số mặt. Các
nước tư bản khác cũng vượt qua khủng hoảng, sản xuất bắt đầu phát triển. Lợi
dụng các nước xã hội chủ nghĩa cải tổ, cải cách, mở cửa Mỹ đề ra dự án
"dân chủ toàn cầu” nhằm ủng hộ sự xuất hiện của lực lượng "dân chủ” ở
các nước cộng sản, tìm cách đả kích hệ tư tưởng Mác-xít, đề cao "dân
chủ", "tự do” phương Tây, thúc đẩy sự hòa nhập kinh tế thế giới để
lái cải cách đi chệch khỏi quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Mỹ ngầm đánh vào bên
trong các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời nghi binh chiến lược, tích cực tuyên
truyền chạy đua vũ trang, thu hút Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa cái
gọi là "chương trình SDI", kéo quân đội Liên Xô ra ngoài, chạy theo
đối phó với "nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực, toàn cầu,”
loại được công cụ sắc bén của Đảng Cộng sản Liên Xô, đặc biệt là loại được lực
lượng KGB ra khỏi cuộc chiến tranh ngầm” đang diễn ra gay gắt ngay trong lòng
chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau khi nhậm chức Tổng thống Mỹ (1-1989), G.Bush đưa
ra chiến lược “vượt trên ngăn chặn", trong đó linh hồn là “diễn biến hòa
bình”, nhằm đưa cuộc đấu tranh vào trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa (bằng
lực lượng phản động), làm cho các nước xã hội chủ nghĩa bị xô đẩy tới chỗ sụp
đổ.
Đến đây, "diễn biến hòa bình" từ vị
trí là thủ đoạn của chiến lược "ngăn chặn", "vượt trên ngăn
chặn" đã trở thành một chiến lược chống cộng toàn diện. Sử dụng chiến lược
này, Mỹ và các thế lực phản động đã thu được kết quả, thúc đẩy sự sụp đổ của
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu.
Ở thời kỳ này, Mỹ tiếp tục theo đuổi chiến
lược "can dự” nhưng có sự điều chỉnh nhất định, tăng cường "dính
líu" vào các nước nhưng bằng các biện pháp "cứng rắn” hơn, trong đó
coi trọng "đòn phủ đầu” để thực hiện cái gọi là "chủ nghĩa quốc tế
riêng của Mỹ”. Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell trong một cuộc điều trần ngày
17-1-2001, tuyên bố: "Chủ nghĩa quốc tế riêng của Mỹ sẽ không có bất kể sự
nhún nhường nào khiến cho Mỹ phải rút lui khỏi thế giới, co về pháo đài của chủ
nghĩa bảo hộ hoặc về một hòn đảo biệt lập”.
Sau sự kiện ngày 11-9, Mỹ ra sức lợi dụng cuộc
chiến "chống khủng bố”, lấy cớ "kiểm soát việc sản xuất, tàng trữ vũ
khí giết người hàng loạt" để tính toán, điều chỉnh chiến lược. Đặc biệt,
sau khi lôi kéo đồng minh vào cuộc chiến “chống khủng bố” và một số nước lớn
ngả theo mình, Mỹ đơn phương tuyên bố rút khỏi Hiệp ước cấm tên lửa đạn đạo
(ABM), đẩy nhanh việc thử nghiệm Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD),
thành lập Bộ tư lệnh Bắc Mỹ, tăng chi phí quân sự nhằm châm ngòi một cuộc chạy
đua vũ trang mới, tăng cường khả năng răn đe để thực hiện ý đồ "xây dựng
thế giới một siêu cường” do Mỹ đứng đầu. Mỹ trực tiếp can thiệp (cả bằng quân
sự) vào nhiều nước để mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực Trung Đông và châu Á
- Thái Bình Dương, thông qua chiêu bài "dân chủ, nhân quyền” để can dự sâu
hơn, nhằm "diễn biến hòa bình” đối với các nước, hoặc gây áp lực nhằm
hướng lái các nước theo “quỹ đạo” của Mỹ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét