Thứ Ba, 25 tháng 2, 2025

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC QUÂN SỰ CỦA HỒ QUÝ LY

 

Hồ Quý Ly (1336 - 1407) là một nhà cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam, ông đã tiến hành một loạt các biện pháp cải cách với những biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế. Những cải cách của ông tương đối toàn diện bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị, quốc phòng đến kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục.

Hồ Quý Ly là vị vua Việt Nam đầu tiên quyết định dùng chữ Nôm để chấn hưng nền văn hóa dân tộc. Ông quyết định đưa chữ Nôm vào dạy vua và hoàng tử, hậu phi, con cái nhà quan, cung nữ; soạn sách Thi nghĩa (giải thích Kinh thi) bằng chữ Nôm; làm thơ Nôm.

Hồ Quý Ly rất quan tâm đến việc cải cách, nâng cao tính hiệu quả và thực tiễn của giáo dục, thi cử. Ông cũng là người đầu tiên trong lịch sử đặt ra cấp thi hương (từ năm 1396). Ngay sau khi lên ngôi, ông mở khoa thi Hội (Thái học sinh) lấy đỗ 20 người, trong đó có Nguyễn Trãi. Quy chế và nội dung khoa cử cũng được cải tổ. Năm 1404, Hồ Quý Ly lại đặt thêm kỳ thi viết chữ và thi toán.

Đối với quân đội được ông quan tâm đặc biệt, năm1375 Hồ Quý Ly bắt bắt đầu thực hiện cải cách trên phạm vi rộng rãi: làm sổ quân, thải bớt người già yếu, lấy người mạnh khỏe, tuyển những người am hiểu võ nghệ làm vệ sĩ cai quản các quân. Để tăng cường nguồn nhân lực bổ sung vào quân đội, vua Hồ ra lệnh kiểm tra dân số lập lại sổ hộ tịch trong cả nước làm cơ sở tuyển quân.

Hồ Quý Ly tìm cách chấn chỉnh và tăng cường sức mạnh quân đội, một mặt khống chế các thế lực chống đối trong nước, tạo điều kiện ổn định để tiến hành cải cách; mặt khác là tăng cường sức mạnh Nhà nước để chống lại kẻ thù xâm lược bên ngoài từ cả hai phía Bắc, Nam bảo vệ độc lập dân tộc. Xuất phát từ mục tiêu đó, Hồ Quý Ly đã nỗ lực bằng mọi cách xây dựng cho được một quân đội hùng mạnh để trước hết là bảo vệ, làm hậu thuẫn cho thế lực của bản thân mình và từ đó làm chỗ dựa vững chắc cho các chính sách đối nội và đối ngoại của vương triều Hồ. Đó là một quá trình mang tính nhất quán từ khi ông tham chính dưới triều Trần cho đến khi nắm giữ ngôi vua.

Nội dung giáo dục chủ yếu là giáo dục lòng trung thành; Tăng cường quân kỷ nghiêm ngặt là phương pháp giáo dục để tăng cường sức mạnh quân đội. Hồ Quý Ly là người rất nghiêm đối với những kẻ vi phạm luật pháp và thượng lệnh.

Hình thức tổ chức giáo dục quân sự cũng rất đa dạng. Kết hợp huấn lyện bộ binh và thuỷ binh và các đội kỵ binh, tượng binh và pháo binh phối thuộc. Tăng cường lực lượng thủy quân là một điểm đáng chú ý trong huấn luyện quân đội của Hồ Quý Ly. Cho đến thời nhà Hồ, quân thủy nước ta vẫn chưa tách hẳn thành một bộ phận độc lập so với quân bộ.

Về tổ chức quân đội tiến hành tổ chức lại, chia ra thành nhiều quân. Mỗi quân gồm nhiều vệ. Có 4 loại binh chủng: cấm quân, đại quân, cấm vệ quân (vệ quân) và thủy quân. Cấm quân có 20 vệ, gồm 12 vệ quân Nam ban và Bắc ban và 8 vệ quân Điện hậu đông và Điện hộ tây. Mỗi vệ có 18 đội; mỗi đội có 18 người. Ngoài ra còn phân định thành các đơn vị như đại quân có 30 đội (540 người), trung quân có 20 đội (360 người), doanh quân có 15 đội (270 người); đoàn quân có 10 đội (180 người). Cấm vệ quân (vệ quân) phụ trách trong hoàng cung, có 5 đội cấm vệ đô. Tất cả đặt dưới sự thống lĩnh của các đại tướng.

Về vũ khí trang bị, Hồ Quý Ly rất quan tâm đến việc cải tiến vũ khí, ai giỏi được tuyển vào làm việc chế tạo gươm, súng. Nhà Hồ đã góp công cải cách quan trọng về quân sự chế tạo ra các loại súng và hỏa pháo, đặc biệt là súng thần cơ (còn gọi là thần cơ sang pháo) - một loại súng bắn đạn có thuốc cháy do con trai Hồ Nguyên Trừng chế tạo. Hồ Nguyên Trừng đã cải tiến những kỹ thuật chế súng sẵn có, sáng tạo ra phương pháp chế súng thần cơ, phương pháp này được người Trung Quốc học tập và ứng dụng rộng rãi. Thành quả này là một bước tiến vượt bậc về kỹ thuật quân sự.

Xây dựng hệ thống phòng thủ và chuyển vận phục vụ quốc phòng và kinh tế được Hồ Quý Ly đặc biệt chú trọng. Việc xây thành Tây Giai (tức Tây Đô) ở mạn rừng núi Thanh Hóa với quy mô rộng lớn nhằm thủ hiểm và phòng ngự khi Đông Đô (tức Thăng Long) thất thủ. Bên cạnh đó, Nhà Hồ cho xây đắp thành Đa Bang kiên cố ở Cổ Pháp (Sơn Tây) để che chở cho Thăng Long và cả một hệ thống công trình phòng thủ có quy mô lớn, dài gần 400km chạy suốt từ núi Tản Viên men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc, đến cửa sông Thái Bình. Đó là một hệ thống chướng ngại vật gồm những bãi cọc, những xích sắt cùng với các đồn quân tại khắp các cửa sông, cửa nguồn, quan ải… Nhà Hồ kế thừa những kinh nghiệm xây dựng các trận địa phòng thủ của tổ tiên các thời trước, có thể nói đối với lịch sử quân sự, đây là thời kỳ xây dựng được một công trình phòng ngự có quy mô lớn nhất, trên diện rộng, có chiều sâu lớn và đồ sộ gấp nhiều lần phòng tuyến Như Nguyệt thời Lý chống Tống.

Nhìn chung, với việc cải cách tổ chức binh bị, tăng cường quân số, xây

dựng lực lượng thủy quân, bộ quân, chế tạo vũ khí, chuẩn bị tuyến phòng ngự và

tăng cường quân kỷ… Họ Hồ đã tạo được dưới tay mình một lực lượng quân sự

hùng hậu. Quân đội của Hồ Quý Ly là một lực lượng quân sự đông đảo nhất, có

quy củ nhất, vũ khí hiện đại nhất từ trước cho đến bấy giờ. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét