Thứ Năm, 2 tháng 2, 2023

NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN TRIỂN KHAI TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ VÀ NHÂN DÂN LÀM CHỦ

 


Ngày nay, bối cảnh tác động đến mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ đã có sự thay đổi căn bản. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng đã có bước phát triển nhất định, bộc lộ đầy đủ các quy luật vận động của nó. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo những nguyên tắc mới, chủ quyền Nhân dân, phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước được đề cao. Dân trí và dân chủ của đông đảo các tầng lớp Nhân dân được nâng lên một trình độ mới. Hội nhập quốc tế sâu rộng không chỉ về kinh tế mà còn trên tất cả các mặt văn hóa, khoa học, công nghệ,... Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi tư duy và lối sống của con người. Bối cảnh đó, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức và cách thức giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Để củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.  Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới theo định hướng tạo lập điều kiện và môi trường thuận lợi hơn để các thiết chế của bộ máy nhà nước năng động, sáng tạo, làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không dựa dẫm, ỷ lại. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm soát quyền lực nhà nước để kịp thời phòng, chống sự thao túng quyền lực của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể của Nhân dân theo định hướng phát huy mạnh mẽ hơn nữa quyền làm chủ của Nhân dân; dân chủ phải thực sự trở thành động lực của sự phát triển trong điều kiện mới.

Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân thực sự là một Nhà nước dân chủ, pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Tiếp tục nâng cao nhận thức, thực hiện đúng đắn nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước nhằm xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trước hết là kiểm soát được xã hội và sau nữa là kiểm soát được bản thân mình. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, ủy quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền các cấp ở địa phương theo Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết của Đảng. Xây dựng một Quốc hội mạnh và thực quyền về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; một Chính phủ năng động, sáng tạo, quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả; một nền tư pháp vì công lý, vì quyền con người, quyền công dân.

Kiểm soát quyền lãnh đạo của Đảng và quyền lực nhà nước là nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN. Theo đó, quyền lãnh đạo của Đảng cũng như quyền lực nhà nước được Nhân dân ủy quyền, Nhân dân giao quyền là có giới hạn mà không phải vô hạn. Giới hạn đó là Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2). Do đó, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước và giữa các tổ chức của hệ thống chính trị. Thể chế hóa vai trò của Nhân dân kiểm tra, giám sát các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ thật sự của Nhân dân. Để dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải thực sự dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mình và đặc biệt phải tiếp tục tạo lập môi trường và điều kiện để Nhân dân thực sự làm chủ trên thực tế. Trong mọi hoạt động, Đảng và Nhà nước luôn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ XHCN, quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(2). Đặc biệt, các cơ quan nhà nước cần phải “đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước” (3). Đảng và Nhà nước phải thực sự tạo điều kiện và môi trường để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật cởi mở, thân thiện, dễ dàng trong việc thực hiện các quyền dân chủ cơ bản của công dân. Trong đó, sớm xây dựng và hoàn thiện các đạo luật về các quyền làm chủ trực tiếp của công dân, như Luật Bầu cử, Luật về Hội, Luật về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, Luật Giám sát và phản biện xã hội... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội nâng cao nhận thức, thực hiện mạnh mẽ, thực chất chức năng giám sát và phản biện xã hội, coi đó là phương tiện của những tổ chức đại diện Nhân dân kiểm soát trước và sau đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đảng và Nhà nước thực sự coi đó là phương thức khắc phục những khiếm khuyết trong hoạt động của hệ thống chính trị nhất nguyên, bảo đảm tính hiệu quả, thiết thực trong việc mở rộng dân chủ, đi đôi với giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa để Nhân dân thực sự là chủ nhân của đất nước. Lợi ích, sức mạnh của đất nước đồng nhất với lợi ích, sức mạnh của Nhân dân. Sứ mệnh, vai trò của Đảng, Nhà nước là bảo vệ và phục vụ Nhân dân. Quyền lực của Đảng, Nhà nước là do Nhân dân ủy thác. Đảng viên và cán bộ, công chức, viên chức là con em của Nhân dân, được Nhân dân nuôi dưỡng phải thực sự là “công bộc”, “đầy tớ” trung thành của Nhân dân.

Bốn là, tích cực, chủ động, nhạy bén nhận diện những thủ đoạn mới và kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu,... chống phá thành quả cách mạng cùng những quan điểm “tư bản hóa” Việt Nam, chia rẽ Đảng với Nhân dân, xuyên tạc, phá hoại quan hệ: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đồng thời củng cố, phát triển thực chất mối quan hệ này để làm căn cứ thực tiễn xác đáng, giàu tính thuyết phục đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Tóm lại: Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ chính là sự thể hiện rõ nhất tính đặc sắc, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta đang xây dựng. Đó là sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và toàn xã hội; là sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở thể chế hóa những chủ trương của Đảng và vai trò làm chủ của Nhân dân. Do đó, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ chính là giải pháp cần thiết để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ thực sự của Nhân dân./.

TBQL 17

CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ VÀ NHÂN DÂN LÀM CHỦ

 


Đảng - Nhà nước - Nhân dân là ba thành tố có quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau; trong đó, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo; Nhà nước đại diện cao nhất của quốc thể thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại; Nhân dân làm chủ trong thực hiện đường lối lãnh đạo, bầu cử lập ra hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước và thụ hưởng thành quả lãnh đạo. Cần phải củng cố, tăng cường, củng cố mối quan hệ này xuất phát từ những khía cạnh sau:

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta chưa thật sự chú trọng đến mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố Đảng - Nhà nước và Nhân dân. Từ khi đổi mới đến nay, nhận thức về mối quan hệ này ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn. Với nhận thức về vị trí, vai trò của mối quan hệ này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vững và ngày càng phát huy là nhân tố định hướng sự tồn tại và phát triển của ba thành tố: Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc mới về chất so với trước đây “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được pháp luật quy định. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý và Nhân dân là chủ.

Thứ hai, xuất phát từ những hạn chế, bất cập trong quá trình hiện thực hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý.  Nhân dân làm chủ thời gian qua. Mặc dù mối quan hệ này ngày càng được hoàn thiện, củng cố cả về lý luận và thực tiễn nhưng vẫn có tình trạng nhấn mạnh một chiều vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao tính tất yếu coi Nhân dân làm chủ như là hệ quả, là kết quả đương nhiên của sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, nhưng vai trò“đồng thời là bộ phận của hệ thống chính trị ấy”chưa thấy rõ, dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước chưa thực sự trở thành “công bộc” của Nhân dân, mà có nơi, có lúc dường như trở thành“ông chủ”của Nhân dân; tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng ở một số nơi còn rất hình thức. Quyền lực chính trị của Đảng rất lớn nhưng cả trong Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước không quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của tổ chức đảng và cá nhân đứng đầu tổ chức đảng nên dường như trong một số trường hợp chưa thực sự kiểm soát được quyền lực của người đứng đầu cấp ủy các cấp trên thực tế. Vì thế, không ít cá nhân giữ trọng trách của Đảng và Nhà nước ở các cấp có điều kiện thao túng quyền lực, độc đoán, chuyên quyền, hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo.

Thứ ba, trong thời gian qua, một trong những vấn đề bị các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc, chống phá là mô hình và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Để thực hiện các mưu đồ chống phá, các phần tử cơ hội chính trị còn ráo riết đưa người ứng cử tự do vào Quốc hội và hội đồng Nhân dân các cấp. Khi các vòng hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc chủ trì loại chúng ra khỏi danh sách ứng cử (vì không đủ tiêu chuẩn và không được tín nhiệm), thì chúng yêu cầu “phải xóa bỏ cơ chế hiệp thương”. Chúng đòi hỏi phải xây dựng “xã hội dân sự”, để các tổ chức quần chúng hoạt động độc lập, như là lực lượng đối trọng, đối lập với đảng cầm quyền, để kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước, để xây dựng cơ sở xã hội cho các đảng đối lập ở Việt Nam.

Tóm lại: Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ ở Việt Nam trong thời gian tới./.

TBQL 17

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA NHÂN DÂN TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 


Đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội trên môi trường mạng là một cuộc chiến đấu vô cùng cam go, khó khăn và ngày càng phức tạp. Điều này đòi hỏi cần có sự vào cuộc kịp thời, quyết liệt của cả hệ thống chính trị và huy động được sức mạnh của toàn dân.

Việt Nam hiện là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet và lượng người truy cập, sử dụng các trang mạng xã hội cao nhất thế giới. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động đã nhanh chóng chuyển trọng tâm tấn công, chống phá Đảng, chống phá chế độ sang mặt trận hoàn toàn mới đó là trên không gian mạng.

Thông qua internet và mạng xã hội, chúng đã thiết lập hàng nghìn trang website, blog, tài khoản facebook, trang fanpage…, mà hầu hết máy chủ đặt ở nước ngoài để từ đó tổ chức các chiến dịch tuyên truyền, phát tán với tần suất và số lượng lớn các tin, bài bình luận, video clip có nội dung xấu, độc… Với chiêu bài tăng cường chống phá từ bên trong kết hợp với bên ngoài, thật giả lẫn lộn, mưa dầm thấm lâu chúng chú trọng đăng tải các ý kiến trái chiều, đi ngược chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta, kích động gây dư luận xấu, tạo mâu thuẫn xã hội, qua đó phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận các thành quả đã đạt được, chống phá sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thủ đoạn được các thế lực thù địch sử dụng hết sức tinh vi, gian xảo. Không chỉ tung hỏa mù bằng các thông tin bịa đặt, vô căn cứ, chúng còn sử dụng những thông tin, sự kiện có thật nhưng đã được chỉnh sửa, thêm thắt tình tiết cài cắm thông tin giả một cách khéo léo để ngụy tạo, bóp méo nội dung với ý đồ đen tối để đăng tải tràn lan trên mạng với lời quảng cáo là những “thông tin chính thống”, khai thác từ “nguồn tin cậy, đã được kiểm chứng”; lập ra các trang giả mạo Cổng thông tin của Chính phủ và các bộ, ngành để đăng tải tin sai sự thật nhằm kích động, đánh lừa người sử dụng mạng xã hội, trong đó không chỉ những người dân thiếu thông tin, thiếu hiểu biết hay giới trẻ chưa có được nhận thức đầy đủ về các vấn đề chính trị-xã hội mà ngay cả những người dân có trình độ nhận thức và học vấn nếu thiếu tỉnh táo, cảnh giác.

Từ đó mưu đồ tạo dựng nhận thức sai lệch, hoài nghi, gieo rắc ngờ vực, chia rẽ nội bộ, kích động, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cổ súy, tung hô chủ nghĩa tư bản, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa…

Không khó để nhận diện mục đích thực sự mà các thế lực thù địch hướng tới khi thiết lập, tăng cường và mở rộng tấn công trên không gian mạng. Chúng muốn lợi dụng mạng xã hội - nơi được coi là không gian mở, thiếu sự kiểm soát nội dung đăng tải để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch. Chúng muốn hướng dư luận đến những nhận thức sai lầm về tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nghi ngờ tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi tính đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mất lòng tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Từ những nhận thức sai lầm bị tiêm nhiễm khi tham gia mạng xã hội, nhiều người dễ nảy sinh tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” để rồi các đối tượng xấu thừa cơ lôi kéo dụ dỗ họ tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, chống phá chế độ. Điều này cũng có nghĩa là nhân dân đã trở thành đối tượng tấn công chính của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Trước thực tế này, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách nhằm phát huy vai trò của các chủ thể nhằm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề phát huy vai trò và sức mạnh của nhân dân.

Ngày 12/6/2018, Luật An ninh mạng được ban hành và chính thức có hiệu lực từ 1/1/2019 cũng đã đưa ra những quy định cụ thể về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đồng thời khẳng định các chính sách của Nhà nước về an ninh mạng nói chung. Tại Điều 3 Chính sách của Nhà nước về an ninh mạng, nhấn mạnh vai trò quản lý của Nhà nước đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan, trong đó Nhà nước đặc biệt khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng bao gồm cả việc đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Thực tiễn này cho thấy, Đảng và Nhà nước ta xác định rõ trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bên cạnh vai trò của cả hệ thống chính trị rất cần sự tham gia của toàn thể nhân dân bởi đây là lực lượng nòng cốt, trực tiếp hằng ngày đối diện với sự tấn công của các thế lực thù địch trên mọi lĩnh vực, dưới nhiều hình thức, nhất là trên không gian mạng.

Chính nhờ vậy, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã tăng cường huy động sự tham gia của các thành phần trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, ngành nghề cùng phát huy tính chủ động, tích cực tham gia cuộc đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Đứng trước những quan điểm, sai trái, thù địch, trước những luồng thông tin xấu, độc được lan truyền với tốc độ chóng mặt trên không gian mạng, nhiều người dân đã sử dụng các trang mạng xã hội của mình để đấu tranh trực diện, phản bác một cách mạnh mẽ, không khoan nhượng, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Bên cạnh đó, nhiều người dân cũng tích cực tuyên truyền, chia sẻ những thông tin đúng đắn, chính xác về bản chất cách mạng khoa học, nội dung cơ bản và giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thông tin đúng đắn về các vụ việc được quan tâm để không bị kẻ xấu xuyên tạc, thổi phồng. Việc tham gia phổ biến, tuyên truyền những thông tin đầy đủ, chính xác của đông đảo người dân đã góp phần đấu tranh, phản bác một cách hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc trên không gian mạng.

Điều đáng mừng là từ những hành động đấu tranh đơn lẻ ban đầu của một số cá nhân, sau một thời gian với sự định hướng của Đảng, Nhà nước, của các cơ quan chức năng, cũng như sự nhận thức đúng đắn của mỗi người, cuộc đấu tranh “chống giặc trên không gian mạng” đã huy động được sự tham gia của đông đảo người dân từ khắp mọi miền đất nước, thậm chí cả người Việt Nam đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài cũng như người nước ngoài đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam. Một cộng đồng tự nguyện đã liên kết lại với nhau để tạo nên một phong trào đấu tranh tự giác, chủ động, tích cực với mức độ lan tỏa rộng lớn, mạnh mẽ, hiệu quả, đem lại nhiều kết quả tích cực.

Rất nhiều các kênh thông tin bẩn, xấu độc lan truyền các quan điểm sai trái, thù địch trước sự phản bác tấn công mạnh mẽ của nhân dân đã bị vạch trần, buộc phải giảm bớt tần suất cũng như mật độ xuyên tạc, chống phá. Nhiều đối tượng phản động chống phá bị vạch mặt, chỉ tên đã buộc phải im hơi lặng tiếng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tình trạng một số người dân vì thiếu thông tin hiểu biết hoặc nhẹ dạ, cả tin, trong đó có không ít thuộc giới trẻ do chưa có đủ trải nghiệm, kinh nghiệm và nhận thức đúng đắn về nền tảng tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nên dễ tin theo những luận điệu sai trái, thù địch. Từ đó, họ vô tình tham gia phổ biến, lan truyền những quan điểm xấu độc để rồi không lường hết hậu quả. Do đó, trong thời gian tới cần phải tiếp tục xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp nhằm phát huy tốt hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa vai trò, tính chủ động, sức mạnh của người dân trong cuộc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tăng cường giáo dục, phổ biến, tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân tin tưởng vào Đảng, chế độ, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, giúp người dân có kỹ năng, kiến thức để nhận diện thấu đáo những âm mưu, thủ đoạn chống phá, từ đó chủ động, tự giác, tích cực đấu tranh, phản bác các thông tin xấu, độc, các luồng quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng..

Tăng cường giám sát, kiểm soát từ đó tiến tới loại bỏ các trang mạng lan truyền những luồng thông tin độc hại, quan điểm sai trái, thù địch để xây dựng một môi trường thông tin trong sạch trên không gian mạng. Thực hiện tốt công tác điều tra, phát hiện, xử lý những đối tượng tung tin sai trái, thù địch, bịa đặt và cả những đối tượng tiếp tay lan truyền những thông tin này trên không gian mạng.

Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với việc phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kịp thời phát hiện, biểu dương khen ngợi những cá nhân, tập thể có cách làm sáng tạo, hiệu quả trong cuộc chiến chống tin giả, tin bịa đặt, sai sự thật trên môi trường mạng gây bất ổn xã hội./.

TBQL 17

LUÔN KHẲNG ĐỊNH PHẨM GIÁ, HÌNH ẢNH CAO ĐẸP CỦA BỘ ĐỘI CỤ HỒ

 


Như chúng ta đã biết, trước đây cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sĩ Quân đội là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn nắm chắc tay súng, bảo vệ vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo, thềm lục địa; khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bộ đội Cụ Hồ không quản gian khổ, hy sinh, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì dân, vì nước. Những hình ảnh bộ đội giúp dân “diệt giặc đói, giặc dốt”, chống “giặc nội xâm”, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; cùng nhân dân vượt qua thảm họa thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, làm tròn nghĩa vụ quốc tế..., còn đọng mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.

Trong thời chiến trước đây cũng như thời bình hiện nay, người lính sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc cần, dù ở nơi biển, đảo, biên cương xa xôi, hay có mặt tại các điểm nóng của tâm dịch Covid-19, hoặc dầm mình trong bão lũ miền Trung thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, thậm chí nhịn đói khát, chịu nóng bức, hy sinh; đằng đẵng xa gia đình, người thân để thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, giúp nhân dân Nam Phi, Nam Xu Đăng vượt qua hoạn nạn, giành lại quyền sống làm người. Những việc làm thầm lặng ấy thật vẻ vang; những cống hiến, hy sinh cao cả ấy thật to lớn. Không có kẻ thù nào có thể xâm phạm, hủy hoại điều thiêng liêng ấy; không thế lực nào được phép vi phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân; làm hoen ố bản chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

Thực tiễn 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã khẳng định, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta chính là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, thể hiện rõ khát vọng sống vì hòa bình. Dù ở cương vị nào cũng vậy, mọi quân nhân đều son sắt thủy chung với Đảng, với nhân dân; một lòng một dạ “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân và cuộc sống của mình cho cách mạng. Không bao giờ “buông súng”, sa ngã, “lạc đường, chệch hướng” chỉ vì gian khổ, khó khăn, thử thách; chỉ vì sự xuyên tạc, chống phá của kẻ thù; không bao giờ quên lời hứa thiêng liêng đã khắc ghi trong tim mình trước Đảng, Bác Hồ và nhân dân về sự tự nguyện dâng hiến, tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân. Chiến công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành tựu xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định sự tuyệt đối trung thành, niềm tin, danh dự và lẽ sống cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Thế giới có thể đổi thay, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta hiểu rõ ai là bạn, ai là thù, ai đúng, ai sai; ai là đối tác, ai là đối tượng; âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ trẻ hôm nay tự tin kế thừa, nối nghiệp cha anh cầm chắc tay súng bảo vệ biển, trời thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với hành trang và tài sản vô giá Bộ đội Cụ Hồ, cán bộ, chiến sĩ toàn quân hân hoan chào mừng 78 năm ngày truyền thống vẻ vang của mình; ra sức học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phấn đấu thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới; có thêm động lực, niềm tin và sức mạnh để tiếp tục xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; viết tiếp bản anh hùng ca “tiến bước dưới quân kỳ”, “vì nhân dân quên mình”, tô thắm thêm màu cờ Tổ quốc, tỏa sáng danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới./.

TBQL 17

QUÂN ĐỘI TA DO ĐẢNG VÀ BÁC HỒ KÍNH YÊU TỔ CHỨC, GIÁO DỤC VÀ RÈN LUYỆN, LÀ LỰC LƯỢNG NÒNG CỐT CÙNG TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC VÀ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 


          Bằng tâm huyết, bản lĩnh, trí tuệ và những chiến công xuất sắc của mình, Quân đội ta đã được nhân dân tin yêu trao cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành tài sản riêng và giá trị văn hóa quân sự độc đáo của Quân đội và nhân dân ta. Đây cũng là tiêu chí quan trọng để phân biệt Quân đội ta với quân đội các nước khác. Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam: Tổ quốc, Đảng, Bác Hồ, nhân dân và hòa bình, độc lập, tự do là những giá trị thiêng liêng nhất. Thế nhưng, vẫn còn có những nhận thức chưa đúng về sự thật ấy.

Trên thực tế, vì không đủ kiến thức, thiếu thực tiễn hoặc vì những lý do nào đó mà có những quan điểm nhận thức không đúng về Quân đội ta, về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới. Vẫn có người ngộ nhận rằng, bộ đội bây giờ lương cao, “được thụ hưởng cuộc sống sung túc, đủ đầy”; “bộ đội bây giờ không còn vất vả”; Quân đội với “bộ máy cồng kềnh, gây hao tốn ngân sách quốc gia, kéo chậm sự phát triển đất nước”...

Cũng với tầm nhìn hạn hẹp, chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”, các thế lực thù địch đã “vơ đũa cả nắm”, tuyệt đối hóa hiện tượng rồi nâng lên thành bản chất; quy kết một số quân nhân vi phạm pháp luật đến mức phải kỷ luật..., đã làm cho “quân đội hư hỏng”. Từ đó, chúng tung tin, đồn thổi rằng: “QĐND Việt Nam đã thoái hóa, biến chất”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”; “cần phải phi đảng”, “phi chính trị hóa" Quân đội... Đó là những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, mà thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa" Quân đội rất phi lý, không thể chấp nhận. Kịch bản và các chiêu thức mới trong sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin xấu, độc; tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ là tiếp nối chiêu trò “hà hơi, tiếp sức” để thực hiện ý đồ “phi đảng”, “phi chính trị hóa” Quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Cho nên, dù có ngụy trang, che đậy kín đáo đến đâu thì “cái đuôi xảo trá, phản động vẫn lòi ra”; các ẩn ý sâu cay vẫn lộ diện, từ cách giật tít bài viết, tung các hình ảnh “nhạy cảm”, gây sự tò mò đến các giọng điệu lừa bịp, ngụy tạo để thu hút sự quan tâm “khám phá” của cư dân mạng, tìm kiếm sự chia sẻ, a dua, cùng vào hùa chống phá Đảng của mấy nhóm người bất mãn, cơ hội chính trị, phản động. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Bộ đội Cụ Hồ đã từng đánh thắng những tên xâm lược đầu sỏ trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, khắc nghiệt, thì nay trong thời bình, họ không hề run sợ trước bất cứ âm mưu, thủ đoạn chống phá nào dù chúng “ẩn hình”, “ném đá giấu tay” trên không gian mạng, trà trộn trong dân cư hay lẫn khuất ở bên ngoài biên cương Tổ quốc.

Vì sao các thế lực thù địch lại rắp tâm xuyên tạc, bôi đen hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ? Để tồn tại và thõa mãn tham vọng cá nhân “trả thù chế độ”, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị cấu kết với các thế lực thù địch, triệt để lợi dụng mạng xã hội để tung tin giả, xấu, độc nhằm xuyên tạc sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ, mất niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Tim đen của chúng là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị-một mắt khâu quan trọng để thực hiện “phi chính trị hóa” toàn quân, chia rẽ Quân đội với nhân dân; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của người lính Cụ Hồ; đánh mất bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; làm cho Quân đội ta không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân.

Xuyên tạc, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch đã bị phơi bày. Nó chẳng những phủ định sạch trơn giá trị lịch sử, chà đạp lên sự yêu quý, ngưỡng mộ và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội, mà còn khước từ sự chia sẻ, cảm thông đối với những người lính Cụ Hồ về những khó nhăn, gian khổ, thiệt thòi, hy sinh, mất mát và đổ máu trong thời chiến cũng như trong thời bình mà họ và gia đình đã và đang phải gánh chịu.
Đã thế, chúng còn rắp tâm cướp đi sức mạnh, niềm tin của nhân dân đối với Bộ đội Cụ Hồ, phủ nhận mối quan hệ máu thịt, “cá với nước” của quân và dân ta vì chúng biết rõ rằng trong tái tim người dân Việt Nam yêu nước, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ có vị trí đặc biệt quan trọng. Bác Hồ là lãnh tụ tinh thần, là niềm tin, tình yêu, biểu tượng dẫn dắt dân tộc Việt Nam tiến lên. Phủ nhận nguồn gốc, bản chất, truyền thống của Quân đội, chúng không muốn thế hệ trẻ kế thừa sự nghiệp của cha anh, không muốn thế hệ chủ nhân của đất nước hiểu rằng Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà nhân dân dành riêng khen tặng và gửi gắm niềm tin vào Quân đội ta. Qua đó, đánh cắp niềm vinh dự, tự hào: Quân đội ta được mang tên lãnh tụ kính yêu; không muốn thế hệ trẻ biết rằng, trên thế giới, duy nhất chỉ có Quân đội ta có được niềm vinh dự, tự hào và hạnh phúc lớn lao ấy.

 Chưa hết, thâm độc và xảo trá hơn thế, các thế lực thù địch đang rắp tâm hạ bệ hình ảnh cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, từ đó phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch mong muốn Quân đội ta chỉ là những người lính “đánh thuê”, đội quân nhà nghề “ô hợp”, không còn sự thôi thúc hoàn thành nhiệm vụ từ mệnh lệnh trái tim, sự tự nguyện, tự giác phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng chiến đấu: Vì Tổ quốc phụng sự, vì nhân dân phục vụ, “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”; không muốn cán bộ, chiến sĩ thực hiện 10 Lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật của quân nhân và 3 chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Chiều sâu của tội ác là cái đích cuối cùng họ hướng đến thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Quân đội, biến Quân đội ta trở nên vô dụng. Chúng ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu thâm độc ấy và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi hành vi chống phá; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ./.

TBQL 17

CẢNH GIÁC VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHIA RẼ KHỐI ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO

 


Kích động mâu thuẫn, gây xung đột về tôn giáo là những thủ đoạn được các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng nhằm chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định trật tự xã hội, hòng làm suy yếu đất nước ta. Thực tế này đòi hỏi các tổ chức tôn giáo cũng như mọi người dân trong xã hội phải luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác để không bị lôi kéo vào các hoạt động phi pháp, gây tổn hại đến khối đoàn kết dân tộc.

Với bản tính hòa đồng, khoan dung tôn giáo, người Việt Nam luôn cởi mở trong việc du nhập và dung dưỡng nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nếu các tôn giáo, tín ngưỡng đó không đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc, biết tôn trọng văn hóa bản địa. Chính vì thế, dù là một quốc gia đa tôn giáo, đa dân tộc song nước ta không có hiện tượng xung đột tôn giáo.

Kể từ khi giành được độc lập, Ðảng và Nhà nước ta luôn chú trọng giữ gìn đoàn kết tôn giáo, chủ động tập hợp, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, huy động nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước.

Ðiều 3, Luật Tín ngưỡng Tôn giáo 2016 quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như sau: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân; Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.

Thực tế cho thấy, trải qua nhiều biến cố của lịch sử, các tôn giáo ở Việt Nam luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nổi bật trong thời gian qua là sự đồng hành, tham gia tích cực của lực lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong công tác xã hội, phòng, chống dịch, thiện nguyện, xây dựng nếp sống mới… góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước, thắt chặt khối đại đoàn kết dân tộc.

Mặc dù vậy, với dã tâm đen tối các thế lực thù địch luôn thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn hòng chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết tôn giáo nói riêng, đại đoàn kết dân tộc nói chung. Chúng lợi dụng triệt để sự phát triển phong phú, đa dạng của các tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam để tung ra các luận điệu kích động, gây chia rẽ người dân, chia rẽ giữa các tôn giáo với nhau, tạo mâu thuẫn trong nội bộ tôn giáo. Những năm gần đây, chiêu bài chủ yếu được các tổ chức phản động, cực đoan thực hiện là xuyên tạc quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo trong các công ước quốc tế, ngang nhiên cho rằng đây là một quyền dân sự tuyệt đối. Chúng cố tình lờ đi quy định tại Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã khẳng định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác” (khoản 3 Ðiều 18 Công ước).

Những tổ chức, cá nhân phản động, chống phá thường xuyên xúi giục, lôi kéo một số giáo chức, nhà tu hành và công dân theo tôn giáo tham gia các vụ việc gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội dưới vỏ bọc “hoạt động hành lễ”, nhất là trong giai đoạn đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp.

          Ðồng thời dưới vỏ bọc tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử, tín ngưỡng và pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng, các đối tượng xấu thường xuyên công bố những “nghiên cứu tôn giáo”, mục đích chính là hạ thấp uy tín, gây chia rẽ nội bộ trong các tổ chức tôn giáo lớn như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam,…

Từ những thông tin bịa đặt, sai sự thật chúng bôi đen sự hình thành và phát triển các giáo hội, xúc phạm, bôi nhọ, danh dự, nhân phẩm của một số chức sắc tôn giáo. Nguyện vọng thống nhất Phật giáo Việt Nam của các tổ chức Giáo hội, tổ chức Hội và các Hệ phái Phật giáo vốn rất chính đáng và mang tính tất yếu khách quan đã bị ngụy tạo trắng trợn là “chiến dịch triệt hạ những nhân sĩ, tu sĩ Phật giáo có tinh thần phản kháng việc chính trị hóa tôn giáo này”.

          Cũng vì chứa nội dung ngụy khoa học với nhiều tình tiết giật gân, bôi nhọ tôn giáo cho nên hầu hết các bài viết xuyên tạc, sai sự thật như vậy chỉ được đăng tải trên các tài khoản cá nhân, nhóm (group), fanpage và một số tờ báo chống cộng ở hải ngoại. Ngay khi được công bố trên các website, fanpage, chúng đã vấp phải nhiều sự chỉ trích, phê phán từ cộng đồng học thuật, các chức sắc tôn giáo cho đến đại bộ phận nhân dân.

          Tuy nhiên, những nội dung xấu, độc này vẫn thu hút được một vài người đọc tò mò, hiếu kỳ, thiếu tư duy phản biện và kiểm chứng, dẫn đến hệ quả, vẫn tồn tại hiện tượng người dân chia sẻ, phát tán các bài viết mạo danh nghiên cứu tôn giáo trên không gian mạng.

Tại Việt Nam, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước nghiêm cấm các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Mặt khác, các lãnh đạo Ðảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đến tất cả hoạt động, sự kiện tôn giáo lớn trong cả nước.

Như vậy, trước những mặt trái của sự đa dạng tôn giáo, tín ngưỡng cùng âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch; nguy cơ xung đột, mất đoàn kết tôn giáo tại Việt Nam có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Thực tế này đòi hỏi các cơ quan chức năng phải tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo, bao gồm việc ban hành nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Bên cạnh đó, cần chú ý, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, nhất là tại các địa bàn như Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung; xây dựng được một lực lượng làm công tác tôn giáo có năng lực, nhạy bén và tinh tế trong việc xử lý những điểm nóng về mâu thuẫn, mất đoàn kết tôn giáo. Không những vậy, họ phải là những cán bộ có ảnh hưởng xã hội, có tiếng nói, biết tập hợp, đoàn kết các tôn giáo cùng hiệp lực để đương đầu, giải quyết các khó khăn, thách thức nảy sinh trong cuộc sống.

Quan trọng hơn cả, các tôn giáo cần tiếp tục gìn giữ truyền thống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau vốn đã tồn tại xuyên suốt trong nhiều thế kỷ ở nước ta. Bởi, chỉ khi các tôn giáo duy trì và phát huy lẽ sống “tốt đời, đẹp đạo”, gắn bó với dân tộc, đồng hành cùng đất nước, khối đoàn kết tôn giáo mới thật sự là tấm khiên vững chắc trước sự tấn công của giặc ngoại xâm cho đến các tổ chức thù địch, chống phá ./.

TBQL 17

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VÀ GIỮ VỮNG NIỀM TIN VÀO SỰ LÃNH ĐẠO ĐẠO CỦA ĐẢNG

 


Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam ra đời ngày 22-12-1944 từ những tổ chức vũ trang tiền thân trong phong trào đấu tranh cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sáng lập, tổ chức, lãnh đạo. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tính tất yếu, đặc thù ra đời và vai trò to lớn của QĐND Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Bởi vậy, về bản chất, QĐND Việt Nam là Quân đội kiểu mới, công cụ bạo lực vũ trang của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, QĐND Việt Nam cùng với các giai cấp, thành phần của toàn dân tộc tiến hành đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược để giành độc lập dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà. Sau khi đất nước độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, QĐND Việt Nam là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tế lịch sử đấu tranh cách mạng cho thấy, từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao phó. Bản chất giai cấp công nhân và truyền thống vinh quang của Quân đội ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Nhưng thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, có sự đóng góp rất quan trọng của QĐND Việt Nam

Là Quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vì vậy, QĐND Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc. Bản chất đó được biểu hiện sâu sắc ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; hệ tư tưởng và nguyên tắc tổ chức xây dựng Quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước xã hội chủ nghĩa quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quyết định các nguyên tắc tổ chức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Hệ tư tưởng trong QĐND Việt Nam là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tửởng Hồ Chí Minh.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến định chương IV về bảo vệ Tổ quốc, bao gồm các Điều 64 đến Điều 68 đã thể hiện đầy đủ, sâu sắc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc. Bản chất chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và QĐND Việt Nam nói riêng, thể hiện ở những nội dung cụ thể sau:

 Thứ nhất, vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Điều 64 quy định: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Như vậy, Hiến pháp đã xác định rõ QĐND Việt Nam cùng với các lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ của QĐND Việt Nam. Điều 65 quy định: Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

 Thứ ba, phương hướng xây dựng QĐND Việt Nam. Điều 66, 67, 68 quy định: Nhà nước xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

 Thứ tư, quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam. Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương Quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của QĐND; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; kiên định, giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo, Nhà nước quản lý QĐND Việt Nam-là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội và là nhân tố bảo đảm chính trị của Quân đội ta.
Các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay cũng hiểu rất rõ điều đó. Do vậy, chúng luôn tìm mọi cách công kích, phá hoại, nhằm tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, trong đó có quan điểm “dân sự hóa” Quân đội, tạo nguyên cớ cho các thế lực có thâm thù với cách mạng tiến hành “cuộc chiến không đánh mà thắng”, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì vậy, việc nhận diện kịp thời và phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, các lực lượng trong phòng, chống luận điệu “dân sự hóa” Quân đội, góp phần tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, suy cho cùng cũng là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam./.

TBQL 17